Khẳng định vai trò khuyến nông trong canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh
Ngày 22/9, tại Nghệ An, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An tổ chức Diễn đàn Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”.

Toàn cảnh Khuyến nông Nông nghiệp với chủ đề “Giải pháp nhân rộng mô hình canh tác lúa phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh”
Giảm phát thải, giảm cả chi phí sản xuất
Theo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, năm 2025, cả nước gieo trồng khoảng 7,13 triệu ha lúa, năng suất bình quân 61,1 tạ/ha, sản lượng khoảng 43,5 triệu tấn. Quy mô sản xuất lớn mang lại lợi thế về sản lượng và bảo đảm an ninh lương thực, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu sử dụng hiệu quả hơn nguồn nước, giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; giảm tổn thất sau thu hoạch và lượng phát thải khí nhà kính.
Trong những năm qua, nhiều chương trình tập huấn, hội thảo đã được triển khai, trong đó có kỹ thuật tưới ngập - khô xen kẽ (Alternate Wetting and Drying - AWD). Đây là phương pháp quản lý nước trong ruộng lúa theo hướng không duy trì ngập liên tục. Ruộng được để khô trong một khoảng thời gian nhất định rồi mới tưới trở lại theo ngưỡng kỹ thuật.
Cách làm này vừa hướng tới tiết kiệm nước, vừa góp phần hạn chế điều kiện phát sinh khí methane (CH4) trong ruộng lúa. Tuy nhiên, để áp dụng hiệu quả, ruộng phải có khả năng chủ động cấp, tiêu nước và người sản xuất phải nắm được thời điểm tưới, thời gian để ruộng khô cũng như yêu cầu sinh trưởng của cây lúa.
Từ góc nhìn này, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, sản xuất lúa đang đứng trước yêu cầu kép: vừa duy trì năng suất, hiệu quả kinh tế, vừa phải giảm tác động đến môi trường.
Theo ông Thanh, khi ruộng lúa thường xuyên ở trạng thái ngập nước, quá trình phân hủy chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí có thể phát sinh khí methane. Trong khi đó, việc thay đổi phương thức canh tác, nhất là những tập quán đã hình thành lâu năm, không phải là chuyện có thể thực hiện trong một sớm một chiều.

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phát biểu tại diễn đàn
Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, ngành lúa gạo vẫn còn nhiều dư địa để giảm phát thải. Vấn đề là lựa chọn được những giải pháp vừa phù hợp với điều kiện đồng ruộng, vừa giúp nông dân thấy rõ lợi ích về kinh tế.
Tại diễn đàn, Tiến sĩ Phạm Thanh Thủy, chuyên viên Phòng Khuyến nông Trồng trọt và Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho rằng phát thải trong sản xuất lúa chủ yếu liên quan đến chế độ nước trên ruộng, sử dụng phân bón và quản lý rơm rạ sau thu hoạch.
Vì vậy, canh tác lúa phát thải thấp không nên được nhìn như một kỹ thuật đơn lẻ. Đây là sự kết hợp của nhiều khâu, từ quản lý nước, sử dụng giống và vật tư hợp lý đến cơ giới hóa, xử lý phụ phẩm, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ.
“Bài toán” đặt ra là các giải pháp giảm phát thải phải đồng thời giúp nông dân giảm chi phí, duy trì hoặc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Nếu chỉ yêu cầu người dân thay đổi kỹ thuật mà chưa chứng minh được lợi ích trên đồng ruộng, việc nhân rộng sẽ khó bền vững.
Từ thực tiễn triển khai các mô hình, bà Phạm Thanh Thủy đề xuất 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: nhân rộng theo vùng sản xuất và theo gói kỹ thuật thay vì triển khai riêng lẻ từng biện pháp; coi quản lý nước là khâu trọng tâm trong giảm phát thải; giảm lượng giống, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý; quản lý rơm rạ theo hướng tuần hoàn, tạo thêm giá trị; đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ gắn với dịch vụ sản xuất; tổ chức lại sản xuất, phát huy vai trò của hợp tác xã và tăng cường liên kết với doanh nghiệp; đồng thời đổi mới phương thức khuyến nông để đáp ứng yêu cầu nhân rộng.
Theo đó, hoạt động khuyến nông cũng cần thay đổi. Thay vì dừng ở “tập huấn - xây dựng mô hình”, cần chuyển sang quy trình “hướng dẫn - thực hành - theo dõi - đánh giá - nhân rộng”.

Tiến sĩ Phạm Thanh Thủy, chuyên viên Phòng Khuyến nông Trồng trọt và Lâm nghiệp, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phát biểu tại Diễn đàn
Vai trò của khuyến nông được khẳng định
Qua các tham luận, một thực tế được chỉ ra là không phải mô hình nào hiệu quả trên diện tích thí điểm cũng dễ dàng mở rộng ra sản xuất đại trà.
Trước hết là điều kiện thủy lợi nội đồng. Khả năng chủ động cấp, tiêu nước giữa các vùng còn khác nhau. Với AWD, nếu người dân không chủ động điều tiết nước hoặc mặt ruộng không bằng phẳng, việc áp dụng đúng quy trình sẽ gặp nhiều khó khăn.
Quy mô ruộng đất nhỏ, phân tán cũng là một trở ngại. Khi mỗi hộ sản xuất một cách, sử dụng lịch thời vụ, chế độ nước và quy trình kỹ thuật khác nhau, việc tổ chức một vùng sản xuất đồng nhất sẽ khó thực hiện.

Năm 2025, cả nước gieo trồng khoảng 7,13 triệu ha lúa, năng suất bình quân 61,1 tạ/ha, sản lượng khoảng 43,5 triệu tấn
Trong khi đó, tập quán gieo sạ dày, bón phân theo kinh nghiệm, giữ nước thường xuyên trên ruộng và xử lý rơm rạ chưa hợp lý vẫn còn phổ biến. Thay đổi những thói quen này cần thời gian, nhưng quan trọng hơn là phải để nông dân trực tiếp nhìn thấy hiệu quả từ mô hình.
Cơ giới hóa cũng chưa đồng bộ giữa các khâu. Làm đất và thu hoạch đã được cơ giới hóa khá cao, nhưng gieo cấy, chăm sóc, quản lý nước, thu gom và xử lý rơm rạ vẫn thiếu dịch vụ phù hợp ở nhiều nơi.
Một điểm nghẽn khác là liên kết sản xuất - tiêu thụ. Có những mô hình áp dụng kỹ thuật tốt nhưng chưa hình thành được vùng nguyên liệu ổn định, chưa có doanh nghiệp đồng hành lâu dài. Khi nguồn hỗ trợ kết thúc, mô hình vì thế cũng khó duy trì.
Bên cạnh đó, việc ghi chép, theo dõi dữ liệu sản xuất và đánh giá kết quả giảm phát thải còn hạn chế. Nhiều mô hình chủ yếu quan tâm đến năng suất và hiệu quả kinh tế, trong khi các thông tin về lượng nước sử dụng, vật tư đầu vào, phụ phẩm và các chỉ tiêu liên quan đến phát thải chưa được theo dõi đầy đủ.
Nguồn lực dành cho nhân rộng cũng đang phân tán. Nếu chỉ tiếp tục hỗ trợ những mô hình nhỏ trong thời gian ngắn thì khó tạo chuyển biến ở quy mô vùng. Trong khi đó, hạ tầng thủy lợi, máy móc, dịch vụ sản xuất và đào tạo kỹ thuật lại cần sự tham gia đồng thời của địa phương, hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân.
Từ những vấn đề trên, vai trò của hệ thống khuyến nông trong quá trình nhân rộng được đặt ra rõ hơn. Khuyến nông không chỉ là nơi tổ chức lớp tập huấn hay xây dựng mô hình trình diễn. Quan trọng hơn, cán bộ khuyến nông phải cùng nông dân thực hành trên đồng ruộng, theo dõi mực nước, điều chỉnh kỹ thuật theo mùa vụ, tính toán chi phí, năng suất và hiệu quả rồi tổng kết thành những quy trình đơn giản, dễ áp dụng.
Bởi với người nông dân, hiệu quả của một kỹ thuật không nằm trên tài liệu tập huấn mà được quyết định ngay trên thửa ruộng của họ. Khi người dân thấy rõ việc giảm lượng giống, giảm phân bón, tiết kiệm nước, giảm công lao động mà năng suất vẫn bảo đảm, khả năng mô hình được tự nhân rộng sẽ cao hơn.
Cùng với chuyển giao kỹ thuật, hệ thống khuyến nông cũng cần tham gia sâu hơn vào tổ chức sản xuất. Đó là hỗ trợ hợp tác xã xây dựng kế hoạch mùa vụ, kết nối doanh nghiệp cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm, phát triển dịch vụ cơ giới hóa, thu gom phụ phẩm và tổ chức ghi chép dữ liệu sản xuất.
Đây là yêu cầu thực tế bởi canh tác lúa phát thải thấp không thể thực hiện hiệu quả nếu từng hộ làm riêng lẻ. Muốn giảm phát thải ở quy mô lớn, cần hình thành vùng sản xuất có sự thống nhất về quy trình, thời vụ, quản lý nước, vật tư và đầu ra sản phẩm.

Bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An
Đối với Nghệ An, riêng đối với lĩnh vực trồng trọt và sản xuất lúa, Nghệ An có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khá lớn, với hơn 300.000 ha; trong đó diện tích đất trồng lúa duy trì hơn 90.000 ha, sản xuất 2 vụ lúa chính trong năm, cho sản lượng đạt trên 1,1 triệu tấn/năm.
Với diện tích sản xuất lớn, việc chuyển đổi phương thức canh tác theo hướng tiết kiệm đầu vào, giảm phát thải không chỉ có ý nghĩa về môi trường mà còn tác động trực tiếp đến chi phí và hiệu quả sản xuất của người dân.
Phát biểu tại diễn đàn, bà Võ Thị Nhung, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An nhấn mạnh: Lúa được xác định là cây trồng chủ lực của tỉnh và được tỉnh Nghệ An quan tâm đẩy mạnh phát triển. Tỉnh có nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển sản xuất lúa gạo theo hướng tích tụ ruộng đất, sản xuất tập trung, ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ, công nghệ cao và sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng cao, bền vững.

