Khẳng định vị thế đào tạo - nghiên cứu khoa học quân sự uy tín
Trải qua sáu thập kỷ xây dựng và trưởng thành, Học viện Kỹ thuật quân sự (Bộ Quốc phòng) đã khẳng định vai trò là một trong những trung tâm đào tạo cán bộ kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và công nghệ quân sự quan trọng của Quân đội và đất nước.
Từ những ngày đầu còn nhiều thiếu thốn, các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên của Học viện đã bền bỉ vun đắp truyền thống đoàn kết, bản lĩnh, trí tuệ, sáng tạo; tạo nền tảng để nhà trường tiếp tục đổi mới, hướng tới mô hình đại học nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới.

Học viện KTQS tổ chức kiểm tra năng lực ngoại ngữ cho học viên tạo nguồn đào tạo sau đại học năm 2026. Ảnh minh họa: mta.edu.vn
Bền bỉ vun đắp truyền thống
Ngày 28/10/1966, Phân hiệu II Đại học Bách khoa - tiền thân của Học viện Kỹ thuật quân sự ngày nay được thành lập, đồng thời khai giảng khóa đầu tiên tại Hà Nội. Sự kiện đánh dấu bước phát triển quan trọng trong công tác đào tạo kỹ sư quân sự, đặt nền móng cho việc hình thành một cơ sở đào tạo đại học kỹ thuật đa ngành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Từ những ngày đầu với đội ngũ giảng viên còn mỏng, điều kiện học tập, nghiên cứu nhiều khó khăn, Học viện từng bước trưởng thành trong thử thách của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cán bộ, giảng viên, học viên vừa duy trì giảng dạy, học tập, vừa thích ứng với yêu cầu sơ tán, bảo đảm an toàn và phục vụ nhiệm vụ chiến đấu. Có những thời điểm, cán bộ, giảng viên của nhà trường được cử đi thực tế tại chiến trường, tham gia các nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn, qua đó tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, gắn kiến thức kỹ thuật với yêu cầu cấp thiết của chiến trường.
Trong điều kiện chiến tranh, việc đào tạo được tổ chức khẩn trương, linh hoạt, hướng tới mục tiêu sớm bổ sung cán bộ kỹ thuật cho Quân đội. Sau hơn một năm học tập, khóa chuyển tiếp đầu tiên với 161 kỹ sư quân sự đã tốt nghiệp. Đến năm 1975, nhà trường đào tạo được hơn 2.000 kỹ sư quân sự, góp phần đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng và bảo đảm kỹ thuật trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Những năm tháng ấy đã góp phần hình thành phẩm chất nổi bật của Học viện: chủ động vượt khó, gắn đào tạo với thực tiễn, coi trọng năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề đặt ra từ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Đây cũng là nền tảng để các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên tiếp tục kế thừa, phát triển trong những giai đoạn tiếp theo.
Ngày 18/6/1968, nhà trường được đổi tên thành Trường Đại học Kỹ thuật quân sự. Đến ngày 15/12/1981, Học viện Kỹ thuật quân sự chính thức được thành lập. Năm 1991, Học viện mang tên Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn; ngày 31/1/2008, được Chính phủ công nhận là trường đại học trọng điểm quốc gia. Mỗi dấu mốc đều gắn với yêu cầu phát triển mới, từ đào tạo kỹ sư phục vụ chiến trường đến xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật trình độ cao, nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ vào thực tiễn.
Trải qua 60 năm, Học viện đã đào tạo hàng vạn kỹ sư quân sự, dân sự cùng hàng nghìn tiến sĩ, thạc sĩ; nhiều kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm kỹ thuật và phát triển công nghiệp quốc phòng. Với những đóng góp trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, Học viện được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ đổi mới năm 2005, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Nhìn lại chặng đường đã qua, truyền thống của Học viện Kỹ thuật quân sự không chỉ được tạo nên bởi những dấu mốc lịch sử hay thành tích đào tạo, nghiên cứu, mà còn từ tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến của lớp lớp cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ. Trong mỗi giai đoạn, yêu cầu nhiệm vụ có thể khác nhau, nhưng tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết, chủ động và sáng tạo luôn là điểm tựa để nhà trường vượt qua khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.
Truyền thống ấy cũng đặt ra trách nhiệm đối với thế hệ hôm nay: không chỉ gìn giữ những giá trị đã được bồi đắp, mà còn phải tạo ra những bước phát triển mới, đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và yêu cầu hiện đại hóa Quân đội. Khi tri thức, công nghệ ngày càng trở thành yếu tố trực tiếp quyết định năng lực làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, vai trò của một cơ sở đào tạo và nghiên cứu kỹ thuật quân sự càng đòi hỏi phải được phát huy ở tầm cao hơn.
Đào tạo và nghiên cứu khoa học gắn với yêu cầu thực tiễn
Trên nền tảng truyền thống 60 năm, Học viện Kỹ thuật quân sự đang tập trung đổi mới giáo dục, đào tạo, phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu trở thành trường đại học nghiên cứu trọng điểm quốc gia, có uy tín trong khu vực và quốc tế. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển của riêng nhà trường, mà còn gắn trực tiếp với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, làm chủ công nghệ và góp phần xây dựng Quân đội hiện đại.
Những năm gần đây, Học viện từng bước điều chỉnh chương trình, phương pháp đào tạo theo hướng hiện đại, thiết thực, tăng cường liên hệ giữa kiến thức cơ bản với thực hành, nghiên cứu và giải quyết các bài toán kỹ thuật. Năm 2025, Học viện tiếp tục triển khai đào tạo kỹ sư dân sự sau 6 năm tạm dừng tuyển sinh, mở rộng cơ hội phát huy năng lực đội ngũ và cơ sở vật chất, đồng thời tăng cường kết nối giữa đào tạo với nhu cầu phát triển khoa học, công nghệ của đất nước.
Đến năm 2026, Học viện tổ chức đào tạo ở nhiều trình độ, với 16 chương trình đào tạo tiến sĩ, 19 chương trình đào tạo thạc sĩ và 17 ngành đào tạo đại học, cùng các chương trình đào tạo kỹ sư quân sự chất lượng cao. Giai đoạn 2017-2026, Học viện đào tạo 198 tiến sĩ quân sự, 2.175 thạc sĩ quân sự và 3.057 kỹ sư quân sự; đồng thời đào tạo 67 tiến sĩ, 1.003 thạc sĩ và 4.375 kỹ sư dân sự. Bên cạnh đó, Học viện cũng tham gia đào tạo cán bộ quân sự cho Lào và Campuchia, góp phần tăng cường hợp tác quốc phòng và quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước.
Những kết quả đã đạt được cũng đồng thời phản ánh yêu cầu ngày càng cao về chất lượng đào tạo của Học viện. Theo đó, người học không chỉ cần nắm vững kiến thức chuyên ngành, mà còn phải có tư duy độc lập, năng lực nghiên cứu, khả năng thích ứng với công nghệ mới và giải quyết vấn đề trong môi trường thực tế. Điều này đòi hỏi nhà trường tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, tăng cường thực hành, thí nghiệm, mô phỏng và tạo điều kiện để học viên tham gia sâu hơn vào các hoạt động nghiên cứu khoa học.
Nhấn mạnh yêu cầu phát huy nội lực, đổi mới phương thức lãnh đạo và tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhà khoa học phát huy năng lực chuyên môn, tư duy sáng tạo, theo Trung tướng Trần Văn Thưởng, Chính ủy Học viện Kỹ thuật quân sự, việc xây dựng Học viện theo hướng đại học nghiên cứu cần được cụ thể hóa bằng mục tiêu, lộ trình, lĩnh vực ưu tiên và nguồn lực phù hợp; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy “quản lý, điều hành” sang “kiến tạo, định hướng và dẫn dắt phát triển”.
Quan điểm này đặt trọng tâm vào việc khơi dậy tiềm năng của con người, coi đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học và chuyên gia là nguồn lực nội sinh có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng đào tạo, nghiên cứu. Học viện xác định cần chú trọng phát hiện, bồi dưỡng cán bộ trẻ có năng lực, xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, đồng thời tạo điều kiện để cán bộ, giảng viên tiếp cận tri thức, công nghệ mới và tham gia các mạng lưới học thuật quốc tế.
Cùng với đào tạo, nghiên cứu khoa học tiếp tục là một trụ cột trong quá trình phát triển của Học viện. Từ năm 2016 đến nay, Học viện đã triển khai trên 2.600 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, trong đó hơn 1.400 nhiệm vụ được nghiệm thu. Các nhà khoa học công bố trên 9.400 bài báo, với khoảng 5.800 bài trong nước và trên 3.900 bài quốc tế; trong số đó có 1.781 bài đăng trên các hệ thống WoS/Scopus (hai cơ sở dữ liệu trích dẫn khoa học quốc tế uy tín nhất thế giới, được sử dụng để đánh giá chất lượng bài báo và các tổ chức nghiên cứu). Học viện có 17 bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích và 122 sáng kiến cải tiến kỹ thuật được công nhận.
Nhiều kết quả nghiên cứu đã hướng trực tiếp vào yêu cầu thực tiễn. Các công trình liên quan đến mô phỏng huấn luyện bắn, thiết bị chế áp flycam, robot vận chuyển y tế, buồng khử khuẩn và một số giải pháp kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, dân sinh cho thấy khả năng kết nối giữa tri thức khoa học với nhu cầu sử dụng. Đồng thời, Học viện Kỹ thuật quân sự cũng tham gia nghiên cứu, tư vấn các công trình phục vụ nhiệm vụ trên biển, đảo, góp phần giải quyết những vấn đề kỹ thuật đặt ra trong điều kiện thực tế.
Chuyển đổi số cũng được xác định là một hướng đi xuyên suốt trong quản trị, giảng dạy và nghiên cứu của nhà trường. Cùng với đó, hoạt động hợp tác quốc tế chuyển từ những hoạt động đơn lẻ sang các quan hệ đối tác có chiều sâu, tập trung vào đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao tri thức, công nghệ trong những lĩnh vực Học viện ưu tiên phát triển.
60 năm là một hành trình đủ dài có thể minh chứng cho những thành tựu, nỗ lực của một trong những đơn vị đào tạo - nghiên cứu khoa học quân sự hàng đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hành trình ấy được tạo nên từ khả năng thích ứng trước yêu cầu nhiệm vụ và tinh thần không ngừng tìm tòi, sáng tạo. Trong giai đoạn phát triển mới, việc kế thừa truyền thống cần đi cùng những bước chuyển thực chất về chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và khả năng làm chủ công nghệ. Đó cũng là con đường để Học viện Kỹ thuật quân sự tiếp tục khẳng định vị thế, đóng góp thiết thực vào nhiệm vụ xây dựng Quân đội và sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ của đất nước.
