Khi công nghệ mở thêm những cánh cửa cho di sản Hà Nội


THỂ THAO VÀ VĂN HÓA - LONGFORM
Gắn với những thành tựu đưa Hà Nội tiếp tục dẫn đầu Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) trong năm 2026, nhiều lĩnh vực văn hóa của Thủ đô đang cho thấy những cách tiếp cận mới trong ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Ở góc độ di sản văn hóa, đổi mới sáng tạo được thể hiện từ việc ứng dụng công nghệ để nghiên cứu, bảo tồn đến tìm tòi những phương thức mới nhằm giới thiệu, phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa.
Những hoạt động này cũng phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó nhấn mạnh mục tiêu: “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hóa, xã hội, con người Việt Nam”. Từ những công trình nghiên cứu khảo cổ chuyên sâu đến các sản phẩm trải nghiệm tại di tích, công nghệ đang được sử dụng với những mục đích khác nhau, tạo thêm điều kiện để Hà Nội nghiên cứu, lưu giữ và khai thác nguồn di sản phong phú của mình.
Công nghệ góp phần giải mã quá khứ
Chỉ vài ngày trước khi kết quả Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026 được công bố (ngày 4-10), Dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi điện Kính Thiên đã được khởi công tại Hoàng thành Thăng Long vào ngày 29/9. Cùng với sự kiện này, không gian trưng bày chuyên đề về tính xác thực trong phục dựng di sản được giới thiệu, trong đó có mô hình 3D giúp công chúng hình dung về kiến trúc của chính điện từng giữ vị trí trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Mô hình phục dựng Điện Kính Thiên được giới thiệu tại trưng bày. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN
Đằng sau những hình ảnh trực quan ấy là quá trình nghiên cứu, xử lý và số hóa dữ liệu khảo cổ kéo dài nhiều năm. Đây là công việc phức tạp bởi điện Kính Thiên không còn nguyên trạng, trong khi các cuộc khai quật tại Hoàng thành Thăng Long đã phát hiện nhiều lớp dấu tích kiến trúc thuộc các thời kỳ lịch sử khác nhau, chồng xếp trên cùng một khu vực. Việc tìm hiểu diện mạo công trình vì thế đòi hỏi sự kết hợp giữa nghiên cứu khảo cổ, đối chiếu tư liệu và ứng dụng các phương pháp xử lý dữ liệu hiện đại.
Như chia sẻ, trong hơn một thập niên qua, các chuyên gia công nghệ đã phối hợp với giới khảo cổ tại Hoàng thành Thăng Long số hóa hiện vật và dữ liệu thu thập qua các cuộc khai quật, từng bước xây dựng nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu lâu dài. Việc ghi nhận và hệ thống hóa thông tin bằng công nghệ số tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu đối chiếu dấu tích, phân tích những lớp kiến trúc và tiếp tục kiểm chứng các giả thuyết về không gian lịch sử.

Khách tham quan tìm hiểu mô hình phục dựng Điện Kính Thiên được giới thiệu tại trưng bày. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN
Những nỗ lực nghiên cứu này tiếp tục được bổ sung bằng các phát hiện khảo cổ mới. Tại Hội thảo Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 2026, diễn ra giữa tháng 10, kết quả khai quật khu vực chính điện Kính Thiên được đánh giá là một trong những điểm nhấn của khảo cổ học lịch sử trong năm, bổ sung tư liệu cho quá trình nghiên cứu, phục hồi công trình.
Tại hội thảo, PGS-TS Hà Văn Cẩn, Viện trưởng Viện Khảo cổ học, nhấn mạnh: “Công nghệ phải phục vụ cho câu hỏi khảo cổ học và giúp chúng ta kiểm chứng những giả thuyết khoa học bằng nguồn dữ liệu mới”. Như lời ông, các công nghệ như LiDAR, radar xuyên đất, GIS lịch sử, mô hình hóa 3D và những phương pháp phân tích không gian đang mở ra khả năng mới trong nghiên cứu, nhận diện và phục dựng không gian kiến trúc, đô thị cổ. Đồng thời, việc đổi mới phương pháp nghiên cứu còn đòi hỏi sự thay đổi trong cách khai thác những kết quả khảo cổ đã có”.

Ứng dụng công nghệ mang đến nhiều trải nghiệm cho khách tham quan. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN
“Chúng ta cần nhiều hơn những dữ liệu riêng lẻ. Nhưng quan trọng hơn, chúng ta cần kết nối dữ liệu để nhận diện những quá trình lịch sử” - chuyên gia này cho biết. Và đặt trong bối cảnh nghiên cứu, phục dựng một di tích có nhiều lớp kiến trúc chồng xếp như Hoàng thành Thăng Long, cách tiếp cận này càng có ý nghĩa trong việc làm sáng tỏ diện mạo lịch sử, tạo thêm cơ sở cho công tác bảo tồn và phục hồi di sản
Với trường hợp điện Kính Thiên, có thể thấy một hướng ứng dụng khoa học, công nghệ phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Thủ đô: đưa những phương pháp và công cụ hiện đại vào giải quyết các yêu cầu nghiên cứu cụ thể. Trong lĩnh vực di sản, giá trị của đổi mới sáng tạo được thể hiện qua khả năng xử lý, khai thác dữ liệu và bổ sung căn cứ khoa học cho việc nhận diện, bảo tồn những dấu tích lịch sử.

Hệ thống tra cứu thông tin cùng các sản phẩm sách điện tử 2D, 3D tạo thêm lựa chọn cho du khách tìm hiểu lịch sử, kiến trúc và những giá trị văn hóa của Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Việc kết hợp giữa tư liệu truyền thống và công nghệ góp phần mở rộng khả năng tiếp cận di sản. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN
Dữ liệu số làm giàu nguồn tư liệu di sản
Rộng hơn ,từ những công việc nghiên cứu chuyên sâu tại Hoàng thành Thăng Long, có thể thấy vai trò ngày càng rõ của dữ liệu số trong hoạt động di sản. Việc thu thập, lưu giữ và hệ thống hóa tư liệu bằng công nghệ đang tạo thêm điều kiện cho công tác quản lý, nghiên cứu và bảo tồn tại nhiều di tích của Hà Nội.
Với khoảng 6.500 di tích, trong đó có 22 di tích quốc gia đặc biệt, cùng 351 bảo vật quốc gia và Di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội có nguồn tư liệu lịch sử, văn hóa phong phú cần được ghi nhận và khai thác lâu dài. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, việc xây dựng các nguồn dữ liệu số về di sản là một hướng thực hiện phù hợp, gắn ứng dụng công nghệ với yêu cầu quản lý, nghiên cứu và bảo tồn của thành phố

Tour đêm “Tinh hoa đạo học” tăng sự hấp dẫn cho du khách khi đến với Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Ảnh: Thanh Tùng - TTXVN
Thực tế, thời gian qua, hoạt động số hóa đang được triển khai tại nhiều di tích của Hà Nội với những cách làm phù hợp với đặc điểm từng nơi. Đơn cử, tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, hơn 200 tư liệu, ảnh lịch sử, văn bia, bản dập, hoành phi, câu đối đã được số hóa 2D; 155 hiện vật được số hóa 3D. Cùng với đó, 43 hạng mục kiến trúc và 94 điểm panorama 360 độ được xây dựng trên môi trường số; toàn bộ 82 bia Tiến sĩ cũng đã được số hóa, tạo nguồn tư liệu phục vụ tra cứu, nghiên cứu và giới thiệu di sản.
Tại Khu di tích Cổ Loa, hơn 20 hiện vật và không gian di tích đã được số hóa, hình thành nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu, trưng bày và giáo dục. Thông tin về hiện vật, lịch sử di tích còn được khai thác trong các tiết học lịch sử tương tác trực tuyến. Theo kế hoạch được địa phương giới thiệu, thời gian tới các điểm di tích tại đây sẽ tiếp tục triển khai số hóa 3D và gắn mã QR thuyết minh đa ngôn ngữ.

Các chương trình tham quan buổi tối tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám kết hợp nội dung thuyết minh và trải nghiệm công nghệ, tạo thêm sức hấp dẫn cho điểm đến. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN
Gần đây hơn, ngày 9/10, tại đình Phú Gia, phường Phú Thượng ra mắt họa đồ số Phú Thượng - Phú Gia, nếp làng trong phố. Được xây dựng từ tư liệu lịch sử và hình ảnh địa phương, sản phẩm kết hợp tranh truyền thống với đồ họa số, âm thanh, ánh sáng và hình ảnh chuyển động để giới thiệu quá trình hình thành, phát triển của vùng đất. Cùng với họa đồ số, địa phương giới thiệu công nghệ quét hiện vật 3D, không gian tương tác 360 độ và bản đồ số Hành trình di sản Phú Thượng. Những ứng dụng này cho thấy tư liệu về một vùng đất có thể được tổ chức thành nhiều hình thức thông tin số, phục vụ việc tìm hiểu di tích, hiện vật và lịch sử địa phương.
Qua các trường hợp trên, có thể thấy rõ: hoạt động số hóa di sản tại Hà Nội đang được triển khai theo những mục đích khác nhau, từ lưu giữ hiện vật, kiến trúc, tư liệu lịch sử đến xây dựng bản đồ và các sản phẩm thông tin về di tích. Và gắn với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW, việc tiếp tục thu thập, chuẩn hóa và kết nối các nguồn dữ liệu luôn là hướng được tập trung thực hiện để nâng cao khả năng khai thác lâu dài. Đây cũng là nền tảng để phát triển những hình thức giới thiệu di sản ngày càng đa dạng, phù hợp với công chúng.

Điểm nhấn của Tour đêm Văn Miếu là phần trình chiếu 3D Mapping về những câu chuyện liên quan đến trường đại học lâu đời nhất của Việt Nam. Ảnh: Khánh Hoà - TTXVN
Sáng tạo trải nghiệm từ chất liệu di sản
Đáng nói, từ việc số hóa, lưu giữ và hệ thống hóa tư liệu, công nghệ đang được ứng dụng để tạo ra những phương thức mới trong giới thiệu, phát huy giá trị di sản, giúp công chúng tiếp cận lịch sử bằng hình ảnh, nghệ thuật trình diễn và các hình thức tương tác sinh động.
Một trong những trường hợp tiêu biểu là Khu di sản Hoàng thành Thăng Long. Đầu năm 2026, tại đây đã ra mắt chương trình trình diễn 3D mapping Kinh đô Thăng Long với chủ đề Âm vang triều Lý Bằng công nghệ trình chiếu hình ảnh ba chiều kết hợp âm thanh, ánh sáng, chương trình tái hiện những dấu ấn lịch sử, văn hóa của triều Lý, gắn với thời kỳ Thăng Long trở thành trung tâm chính trị, văn hóa của đất nước. Những tư liệu và nội dung lịch sử được chuyển tải qua hình ảnh chuyển động, giúp người xem hình dung về không gian kinh đô xưa bằng một hình thức thể hiện trực quan.

Không gian số Văn Miếu-Quốc Tử Giám mang lại cho du khách nhiều trải nghiệm mới mẻ. Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN
Cùng với chương trình 3D mapping, Khu di sản Hoàng thành Thăng Long còn đưa vào hoạt động Không gian trải nghiệm số, tích hợp nhiều công nghệ như hình ảnh 3D, thực tế ảo VR360, Holobox, lễ tân ảo ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), kiosk tra cứu thông tin và Selfie AI. Nếu chương trình trình chiếu sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật để giới thiệu lịch sử, thì Không gian trải nghiệm số cung cấp thêm những công cụ để khách tham quan chủ động tra cứu, quan sát và tương tác với nội dung di sản theo nhu cầu.

Lễ ra mắt bức Họa đồ số “Phú Thượng – Phú Gia, Nếp làng trong phố”. Ảnh: BTC
Tương tự, cũng ngay từ đầu năm 2026, tại Lễ hội Cổ Loa, xã Đông Anh đã thử nghiệm mô hình “Không gian di tích - lễ hội truyền thống số” ngay tại khu vực trung tâm lễ hội. Tại Lễ hội Cổ Loa đầu năm 2026, xã Đông Anh thử nghiệm mô hình “Không gian di tích - lễ hội truyền thống số” ngay tại khu vực trung tâm lễ hội. Trong không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, người dân có thể quét mã QR để tìm hiểu thông tin về di tích, cổ vật; xem hình ảnh hiện vật qua công nghệ hologram 3D hoặc sử dụng kính thực tế ảo để khám phá không gian Cổ Loa. Việc bố trí các hoạt động trải nghiệm công nghệ ngay trong lễ hội giúp người tham dự có thêm lựa chọn tìm hiểu lịch sử, văn hóa bên cạnh những hoạt động truyền thống.

Không gian trải nghiệm đa giác quan tại Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: HTTL
Tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, ứng dụng công nghệ được triển khai theo nhiều hình thức phục vụ khách tham quan. Hệ thống thuyết minh tự động (Audio Guide) với 12 ngôn ngữ cho phép du khách lựa chọn nội dung theo lộ trình riêng; mã QR đặt tại các hạng mục giúp người xem chủ động tra cứu thông tin về lịch sử, kiến trúc. Tour đêm “Tinh hoa đạo học” sử dụng công nghệ 3D mapping kết hợp âm thanh, ánh sáng để giới thiệu những câu chuyện về hiền tài, khoa bảng và truyền thống tôn sư trọng đạo ngay trong không gian di tích. Đặc biệt, tại khu vườn bia Tiến sĩ, công nghệ trình chiếu mapping hỗ trợ khách tham quan tìm hiểu nội dung các tấm bia; công nghệ Leap Motion cho phép tương tác bằng chuyển động để khám phá nội dung.

Trải nghiệm công nghệ thực tế ảo VR360 tại Hoàng thành Thăng Long
Từ nghiên cứu khảo cổ, xây dựng dữ liệu số đến phát triển những sản phẩm trải nghiệm, các hoạt động tại Hà Nội phản ánh những hướng ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực di sản. Đây cũng là những cách thực hiện phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, gắn phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số với việc xây dựng, phát huy các giá trị văn hóa. Trên nền tảng tư liệu và những giá trị lịch sử vốn có, việc lựa chọn công nghệ phù hợp với từng mục đích sẽ tạo thêm điều kiện cho công tác bảo tồn, nghiên cứu và giới thiệu di sản trong đời sống đương đại.
- CÒN NỮA -
Bài viết: CHI MAI
Trình bày: PHẠM HUY
