Khi nào cần lập phương án nhiệm vụ đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính?
Nghị định số 101/2024/NĐ-CP đã quy định bản đồ địa chính được lập để sử dụng cho các mục đích, trong đó có mục đích thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Theo phản ánh của ông Nguyễn Văn Thành (Khánh Hòa), tại điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 quy định:
"3. Thẩm định thiết kế kỹ thuật - dự toán, phương án nhiệm vụ: Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định thiết kế kỹ thuật trong thiết kế kỹ thuật - dự toán, phương án nhiệm vụ. Cơ quan có chức năng quản lý đất đai cấp xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc thẩm định kỹ thuật trong phương án nhiệm vụ, thiết kế kỹ thuật - dự toán đối với trường hợp trích đo bản đồ địa chính hoặc đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai thuộc thẩm quyền của cấp xã. Cơ quan thẩm định dự toán kinh phí trong thiết kế kỹ thuật - dự toán, phương án nhiệm vụ được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý ngân sách nhà nước;".
Ông Thành hỏi, vậy việc đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính phục vụ công tác thu hồi đất để thực hiện dự án có phải để phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai thuộc thẩm quyền của cấp xã và phải lập phương án nhiệm vụ đo đạc lập bản đồ địa chính theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 26/2024/TT-BTNMT không?
Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:
Tại điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai đã quy định bản đồ địa chính được lập để sử dụng cho các mục đích, trong đó có mục đích thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Do đó, khi tổ chức thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải sử dụng bản đồ địa chính đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Mặt khác, tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP đã quy định đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính thực hiện với khu vực đã có bản đồ địa chính khi có sự thay đổi một trong các yếu tố về hình dạng, kích thước, diện tích thửa đất và các yếu tố khác có liên quan đến nội dung bản đồ địa chính.
Việc xác định và thể hiện, trình bày thửa đất trên bản đồ địa chính thực hiện theo quy định tại khoản 7 Điều 13 Thông tư số 26/2024/TT-BTNMT ngày 26/11/2024 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) quy định kỹ thuật về đo đạc lập bản đồ địa chính, trong đó, đã quy định việc xác định ranh giới, mốc giới khu vực nhà nước thu hồi đất (chỉ giới) khi thực hiện đo đạc chi tiết dựa trên hồ sơ thu hồi đất được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và bổ sung lên bản đồ địa chính (đối với nơi đã có bản đồ địa chính) bằng phương pháp đo đạc trực tiếp tại thực địa hoặc chuyển vẽ từ hồ sơ lên bản đồ địa chính nếu đủ thông tin chuyển vẽ và bảo đảm độ chính xác theo quy định.
Trường hợp khi đối soát khu vực nhà nước thu hồi đất với bản đồ địa chính mà có sự thay đổi một trong các yếu tố về hình dạng, kích thước, diện tích thửa đất và các yếu tố khác có liên quan đến nội dung bản đồ địa chính thì căn cứ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP để tổ chức thực hiện việc đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính.
Đối với trường hợp phải lập phương án nhiệm vụ đo đạc để phục vụ thu hồi đất thì thực hiện trong quá trình lập và trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ thu hồi đất.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị ông nghiên cứu các quy định của pháp luật về đất đai hiện hành để thực hiện theo đúng quy định.
