Kho ảnh EFEO - 'mở hướng' từ bảo tàng tới lớp học

Tiếp nối kỳ trước - Kho ảnh EFEO - Khi những bức ảnh trở thành 'sử liệu' - kho tư liệu của Viện Viễn Đông Bác cổ tiếp tục được nhìn nhận từ góc độ khác: Nền tảng cho những cách tiếp cận mới trong nghiên cứu, bảo tồn và giáo dục.

Tại hội thảo khoa học quốc tế "Sưu tập tư liệu ảnh EFEO - Tiềm năng di sản" vừa qua, các chuyên gia đã đưa ra nhiều đề xuất nhằm khai thác hiệu quả hơn kho ảnh EFEO. Từ công tác bảo tàng, nghiên cứu di sản đến giáo dục lịch sử, những cách tiếp cận này cho thấy bộ sưu tập có thể góp phần giải quyết nhiều yêu cầu mà thực tế đặt ra trong các lĩnh vực văn hóa và giáo dục.

Lấp đầy "khoảng trống" của bảo tàng

Cụ thể, theo phân tích, kho ảnh EFEO có tiềm năng rất lớn trong việc bổ sung diễn giải trưng bày và kết nối không gian số hóa tại các bảo tàng có lưu giữ hiện vật từ thời Pháp thuộc. Trường hợp Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng là ví dụ tiêu biểu: Thành lập năm 1918, đây là nơi lưu giữ nhiều bộ sưu tập điêu khắc tiêu biểu. Tuy nhiên, theo bà Lê Thị Thu Trang, Giám đốc bảo tàng, việc nghiên cứu và diễn giải tại đây vẫn còn những khoảng trống, điển hình như phòng Đồng Dương - nơi trưng bày các hiện vật từ Phật viện Đồng Dương (một trung tâm Phật giáo được các chuyên gia EFEO khai quật năm 1902).

Ảnh chụp cuộc khai quật Đồng Dương năm 1902 của EFEO

Ảnh chụp cuộc khai quật Đồng Dương năm 1902 của EFEO

Bởi, khi tách khỏi bối cảnh khảo cổ, nhiều hiện vật chủ yếu được tiếp cận như những tác phẩm độc lập, trong khi giá trị lịch sử và chức năng tín ngưỡng chưa được phản ánh đầy đủ. Từ đó, dù các giám tuyển đã nỗ lực tái hiện bố cục Phật viện, khách tham quan vẫn khó hình dung ý nghĩa của các tác phẩm trong không gian ban đầu. Ngoài ra, việc diễn giải càng trở nên khó khăn khi sau cuộc khai quật năm 1902, nhiều hiện vật khác của Phật viện Đồng Dương được lưu giữ rải rác tại các bảo tàng của Việt Nam và thế giới, làm đứt gãy mối liên hệ giữa các hiện vật và khó tái hiện đầy đủ diện mạo di tích.

Từ đó, theo TS Nguyễn Hoàng Hương Duyên (Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng), đơn vị này cần xây dựng cơ chế hợp tác với Thư viện Khoa học xã hội và EFEO nhằm số hóa, chia sẻ các tư liệu ảnh liên quan đến cuộc khai quật Đồng Dương và các di tích Chăm ở miền Trung. Trên cơ sở đó, một hệ thống dữ liệu số chung phục vụ lưu trữ, tra cứu và khai thác tư liệu có thể được hình thành, tạo nền tảng để bảo tàng từng bước phát triển các hình thức diễn giải mới.

Một góc di tích Đồng Dương thời Pháp thuộc. Ảnh: EFEO

Một góc di tích Đồng Dương thời Pháp thuộc. Ảnh: EFEO

Điển hình, các bức ảnh liên quan của EFEO có thể được đưa trực tiếp vào không gian trưng bày nhằm tái lập bối cảnh khảo cổ và đặc điểm tôn giáo của hiện vật. Với phòng trưng bày Đồng Dương, sơ đồ di tích cùng các ảnh chụp hiện trường khai quật năm 1902 do Henri Parmentier thực hiện có thể được tích hợp để giúp khách tham quan hình dung rõ hơn cấu trúc Phật viện và vị trí ban đầu của các hiện vật. Các ảnh tư liệu cũng có thể được phóng lớn làm phông nền cho nhóm hiện vật, tạo mối liên hệ với không gian đền tháp nơi chúng từng hiện diện.

Bên cạnh đó, một số nhóm tượng có thể được trưng bày cùng ảnh chụp năm 1902 khi còn nguyên trên bệ gạch, kết hợp hình ảnh các hiện vật hiện lưu giữ tại một số bảo tàng khác. Cách sắp đặt này góp phần tái hiện phần nào sự toàn vẹn của quần thể Đồng Dương, giúp người xem hiểu rõ hơn chức năng tôn giáo và ý nghĩa nguyên gốc của các tác phẩm, thay vì chỉ tiếp cận chúng như những hiện vật độc lập.

Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng thời Pháp thuộc (Bảo tàng Henri Parmentier). Ảnh: EFEO

Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng thời Pháp thuộc (Bảo tàng Henri Parmentier). Ảnh: EFEO

Từ trường hợp Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, việc khai thác kho ảnh EFEO có thể trở thành một thực hành giám tuyển áp dụng cho nhiều bảo tàng ở Việt Nam đang lưu giữ hiện vật khảo cổ và tôn giáo được khai quật từ thời Pháp thuộc. Khi được tích hợp vào quá trình nghiên cứu và trưng bày, nguồn tư liệu này góp phần tái lập bối cảnh khảo cổ, kết nối các sưu tập đang phân tán và bổ sung lớp thông tin mà hiện vật tự thân khó có thể truyền tải.

Từ ảnh tư liệu đến học liệu lịch sử

Ở một góc độ khác, theo TS Phạm Quốc Lộc (Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông Liên cấp song ngữ quốc tế Wellspring Saigon), dù phản ánh đa chiều lịch sử, văn hóa và đời sống xã hội Việt Nam, bộ sưu tập này hiện chủ yếu được nghiên cứu dưới góc độ lưu trữ, sử học, bảo tồn di sản hoặc lịch sử thiết chế thuộc địa. Để phát huy thêm tiềm năng, việc khai thác nguồn tư liệu này như một học liệu để phát triển năng lực và tư duy lịch sử cho học sinh phổ thông là hợp lý và cần thiết.

Một góc phòng trưng bày Đồng Dương tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Ảnh: BTĐKCĐN

Một góc phòng trưng bày Đồng Dương tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Ảnh: BTĐKCĐN

Theo phân tích của chuyên gia này, giá trị của kho ảnh EFEO có thể vượt ra ngoài vai trò minh họa cho bài học lịch sử. Bởi khác với văn bản, ảnh giúp người học tiếp cận trực tiếp con người, không gian, đồ vật và các thực hành văn hóa của quá khứ. Tuy nhiên, phần lớn tư liệu được hình thành trong bối cảnh Đông Dương thuộc Pháp, vì vậy mỗi bức ảnh vừa ghi lại hiện thực, vừa phản ánh góc nhìn của người chụp. Do đó, khi khai thác nguồn tư liệu này, học sinh cần được hướng dẫn tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của bức ảnh, mục đích ghi hình và bối cảnh lịch sử của tư liệu, đồng thời đặt ra những câu hỏi về các thông tin nằm ngoài khuôn hình. Cách tiếp cận này giúp người học rèn luyện tư duy phản biện khi làm việc với sử liệu và phù hợp với định hướng phát triển năng lực của chương trình học môn lịch sử hiện nay.

Để phát huy kho ảnh vào hoạt động dạy học, TS Phạm Quốc Lộc đề xuất nhiều hình thức triển khai linh hoạt. Giáo viên có thể tổ chức hoạt động đọc và phân tích ảnh ngay trên lớp hoặc xây dựng các nhóm học liệu theo chủ đề để học sinh tìm hiểu trong thời gian dài hơn. Một hướng tiếp cận khác là triển khai các dự án gắn với di sản, hướng dẫn học sinh đối chiếu ảnh EFEO về nơi mình sinh sống với hiện trạng thông qua khảo sát thực địa, phỏng vấn và các nguồn tư liệu bổ sung. Không gian học tập cũng có thể mở rộng ra ngoài lớp học bằng các triển lãm hoặc diễn đàn, nơi học sinh trực tiếp lựa chọn ảnh, xây dựng chú giải và chia sẻ câu chuyện lịch sử được kể từ những tư liệu này.

Theo TS Phạm Quốc Lộc, để những cách tiếp cận trên đi vào thực tiễn, cần triển khai các dự án thí điểm tại trường học, xây dựng và số hóa bộ học liệu từ kho ảnh EFEO, đồng thời bồi dưỡng giáo viên về phương pháp khai thác tư liệu ảnh. Nếu được triển khai bài bản, kho ảnh EFEO sẽ trở thành nguồn học liệu giàu giá trị, giúp học sinh tiếp cận lịch sử qua những tư liệu gốc và hình thành thói quen quan sát, phân tích, đặt câu hỏi khi làm việc với các nguồn sử liệu.

Một mạng lưới nghiên cứu chung

Theo TS Nguyễn Hoàng Hương Duyên, sự hợp tác giữa Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng với EFEO và Thư viện Khoa học xã hội cần được mở rộng từ việc chia sẻ tư liệu sang nghiên cứu khảo cổ, lịch sử sưu tập, lịch sử trưng bày và nghệ thuật Champa. Kết quả của quá trình nghiên cứu chung sẽ là cơ sở để xây dựng các trưng bày chuyên đề, trực tiếp hoặc trực tuyến, cũng như các triển lãm ảnh và đa phương tiện, qua đó kết nối những hiện vật Champa hiện được lưu giữ tại Đà Nẵng, Hà Nội, Paris, Zurich (Thụy Sĩ), Cleveland (Mỹ) và nhiều địa điểm khác trong cùng một mạch diễn giải.

(Còn tiếp)

Đông Mai

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/kho-anh-efeo-mo-huong-tu-bao-tang-toi-lop-hoc-20260720054646219.htm