Khoa học công nghệ: 'Đòn bẩy' nâng cao sinh kế, thay đổi diện mạo nông thôn, miền núi

Qua 10 năm triển khai, Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 đã khẳng định vai trò then chốt trong việc đưa tri thức khoa học từ phòng thí nghiệm ra đồng ruộng.

Sản phẩm từ Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 thu hút sự quan tâm của các đại biểu.

Sản phẩm từ Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 thu hút sự quan tâm của các đại biểu.

Không chỉ dừng lại ở những con số ấn tượng về dự án hay mô hình, Chương trình đã thực sự tạo nên một cuộc cách mạng trong tư duy sản xuất, biến công nghệ thành sinh kế bền vững cho hàng vạn hộ dân vùng sâu, vùng xa.

Những con số "biết nói" sau một thập kỷ

Ngày 26/6, tại Hội thảo tổng kết Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 (viết tắt là Chương trình nông thôn miền núi), Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định khẳng định: "Thành công lớn nhất của Chương trình không chỉ nằm ở số lượng mô hình, quy trình được chuyển giao mà còn ở việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển địa phương".

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu.

Thành công lớn nhất của Chương trình không chỉ nằm ở số lượng mô hình, quy trình được chuyển giao mà còn ở việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở...

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định

Báo cáo tại Hội thảo tổng kết giai đoạn 2016-2025, Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho biết, trong 10 năm qua, Chương trình nông thôn miền núi đã triển khai 551 dự án tại tất cả 34/34 tỉnh, thành phố trên cả nước. Có 1.426 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ được xây dựng và 2.354 quy trình công nghệ mới, tiên tiến được chuyển giao. Chương trình đã tạo ra xung lực mạnh mẽ cho kinh tế địa phương.

Ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo cho biết, để hiện thực hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc nâng cao đời sống cho người dân, ngày 13/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1747 phê duyệt Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025.

Ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo phát biểu.

Ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo phát biểu.

Ông khẳng định đây là chương trình rất có ý nghĩa với các mục tiêu cụ thể: Đưa nhanh các tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất; Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận và làm chủ các công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại; tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đóng vai trò hạt nhân cho chuỗi giá trị liên kết "4 nhà": Nhà nước, nhà khoa học (viện, trường), doanh nghiệp và người dân (nông dân).

Nhiều sản phẩm đã được gắn thương hiệu, kết tinh trí tuệ của các nhà khoa học phối hợp với sức lao động của bà con trên cánh đồng để tạo ra giá trị cao hơn, bền vững hơn, mở cửa vào các chuỗi siêu thị và ngành hàng bài bản.

Thực tiễn chứng minh, khi có sự hỗ trợ định hướng và nguồn lực từ Nhà nước, các nhà khoa học đã có "đất diễn" để mang những công nghệ hiện đại nhất áp dụng trực tiếp tại cơ sở.

Trong suốt một thập kỷ qua, khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã được rút ngắn một cách mạnh mẽ. Đáng chú ý, các mô hình ứng dụng công nghệ đã đạt mức tăng giá trị kinh tế trung bình hơn 30% so với phương thức canh tác cũ.

Trong lĩnh vực dược liệu, bà Phan Thúy Hiền - Phó Viện trưởng Viện Dược liệu khẳng định, không chỉ hình thành các vùng sản xuất dược liệu tập trung, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân, các dự án còn góp phần thay đổi tập quán sản xuất từ kinh nghiệm truyền thống sang sản xuất theo quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và định hướng thị trường.

Nhiều địa phương đã mạnh dạn đưa các loại cây dược liệu có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Về công nghệ rừng, ông Bùi Duy Ngọc - Viện trưởng Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng cho biết, Viện đã hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương tiếp nhận và làm chủ nhiều mô hình công nghệ tiên tiến, hiện đại như: Mô hình sấy gỗ xẻ rừng trồng, mô hình dây chuyền sản xuất ván ghép thanh tại Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Giang, Hà Nội; Mô hình sản xuất đũa gỗ xuất khẩu tại Tuyên Quang; Mô hình sản xuất viên nén sinh học từ phụ phẩm chế biến gỗ tại Yên Bái; Mô hình sản xuất gỗ ghép khối từ ván bóc tại Yên Bái.

"Một số kết quả nổi bật của các dự án mà Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng đã thực hiện trong giai đoạn 2016-2025 là bằng chứng thực nghiệm khẳng định vai trò quyết định của khoa học công nghệ đối với kinh tế nông thôn miền núi", Viện trưởng Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng khẳng định.

Từ "phòng thí nghiệm" đến những chuỗi giá trị triệu đô

Giới thiệu các sản phẩm từ Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025.

Giới thiệu các sản phẩm từ Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025.

Chương trình đã chứng minh tính hiệu quả qua nhiều mô hình thực tiễn sinh động. Điển hình là trong lĩnh vực hoa và cây cảnh, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh (Viện Nghiên cứu rau quả) đã chuyển giao hơn 40 quy trình kỹ thuật tiên tiến cho 20 dự án trên khắp nước.

Những công nghệ nhân giống, trồng, chăm sóc các loài hoa cao cấp như lan hồ điệp, lan đại châu, hoa huệ... vốn yêu cầu tiêu chuẩn cao, nay đã được nông dân ở các vùng khó khăn làm chủ. Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao đã giúp người dân thu về hàng tỷ đồng, cho hiệu quả kinh tế vượt trội so với cây trồng truyền thống.

Không dừng lại ở những cánh đồng hoa, tại vùng “đất lửa” cát ven biển đầy nắng gió Ninh Thuận, cây nha đam – cây công nghiệp chủ lực của vùng – cũng trải qua quá trình thử nghiệm mang tính quyết định.

Bằng công việc tiếp nhận công nghệ nuôi cấy mô (invitro) sạch bệnh, Chương trình đã xây dựng thành công các mô hình sản xuất quy mô lớn, bảo đảm nguồn nguyên liệu sạch, phục vụ cho nhà máy chế biến nha đam lớn nhất Việt Nam đạt hàng loạt tiêu chuẩn quốc tế.

Một trong những trở ngại lớn nhất của kinh tế nông thôn lâu nay là sự manh mún, và phụ thuộc vào thương lái. Chương trình nông thôn miền núi giai đoạn 2016-2025 đã giải bài toán này bằng cách cung cấp mô hình liên kết chuỗi giá trị và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp làm "đầu tàu" kéo nông dân đi lên.

Tại Nam Định, củ khoai tây từng là cây trồng chủ lực nhưng năng suất bấp bênh do nông dân tự để giống đến 70%, sản phẩm chủ yếu bán tươi nên thường rơi vào cảnh "được mùa mất giá" khi vào chính vụ.

Dự án ứng dụng công nghệ mới của Công ty TNHH Minh Dương đã mang đến sự thay đổi lớn, đưa giống khoai tây Solara sạch bệnh vào sản xuất đại trà trên quy mô 150ha đạt tiêu chuẩn VietGAP, năng suất thực thu đạt 19,68 tấn/ha, vượt trội so với năng suất bình quân của tỉnh.

Quan trọng hơn, với hệ thống kho lạnh bảo quản kèm dây chuyền chế biến hiện đại, doanh nghiệp đã bao tiêu toàn bộ sản phẩm cho bà con nông dân các hợp tác xã, biến khoai tây tươi thành các sản phẩm nông sản sạch có giá trị thương mại cao, không còn phụ thuộc vào thương lái.

Các sản phẩm được hình thành từ Chương trình nông thôn miền núi.

Các sản phẩm được hình thành từ Chương trình nông thôn miền núi.

Tương tự, tại Vĩnh Phúc, Công ty Cổ phần ong Tam Đảo đã làm chủ 15 quy trình công nghệ từ nuôi ong đến sơ chế, bảo quản. Nghề nuôi ong mật sau khi ứng dụng công nghệ đã tăng năng suất từ 10-15 kg/đàn/năm lên 36 kg/đàn/năm, đưa sản phẩm mật ong Tam Đảo vươn tầm thế giới.

Trong lĩnh vực dược liệu, Viện Dược liệu đã chuyển giao quy trình cho 32 đơn vị tại 23 tỉnh, giúp hình thành các vùng nguyên liệu tập trung cho các loài cây giá trị cao như đương quy, đảng sâm, hà thủ ô đỏ...

Không chỉ có nông sản, lĩnh vực lâm nghiệp cũng có bước tiến dài. Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng đã hỗ trợ doanh nghiệp tại các tỉnh miền núi phía bắc làm chủ công nghệ sấy gỗ, sản xuất viên nén sinh học từ phụ phẩm, giúp tận dụng 100% nguồn phế liệu lâm nghiệp để xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc.

"Qua thực tiễn triển khai, chúng tôi nhận thấy một trong những giá trị lớn nhất của Chương trình là đã tạo được cầu nối hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất.

Nhiều kết quả nghiên cứu vốn chỉ tồn tại trong phòng thí nghiệm hoặc trong các mô hình thử nghiệm đã được chuyển giao thành công vào thực tiễn, tạo ra những sản phẩm cụ thể, mang lại hiệu quả rõ rệt cho địa phương", TS Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh chia sẻ.

Chuyển giao công nghệ là chuyển giao niềm tin

Một trong những thành tựu nhân văn nhất của Chương trình là công tác đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ. Đã có hơn 1.800 cán bộ quản lý, hơn 4.000 kỹ thuật viên cơ sở được đào tạo bài bản và trên 82.700 lượt nông dân được tập huấn kỹ thuật. Đây chính là lực lượng nòng cốt để duy trì và nhân rộng các mô hình sau khi dự án kết thúc.

Phương châm "cầm tay chỉ việc" đã làm thay đổi hoàn toàn tập quán sản xuất dựa trên kinh nghiệm truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Thay vào đó là tư duy sản xuất hàng hóa theo quy trình VietGAP, tiêu chuẩn chất lượng và định hướng thị trường.

Toàn cảnh Hội thảo tổng kết Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025.

Toàn cảnh Hội thảo tổng kết Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025.

TS Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh chia sẻ, giá trị lớn nhất không chỉ là các mô hình hoa công nghệ cao đạt doanh thu 2,5-3 tỷ đồng/ha, mà là việc "chuyển giao niềm tin" – niềm tin của người dân vào việc tri thức có thể làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.

Điều chúng tôi tâm đắc nhất không phải chỉ là số lượng mô hình hay quy trình kỹ thuật đã được chuyển giao. Điều quý giá hơn là chúng tôi đã chứng kiến sự thay đổi trong nhận thức và tư duy sản xuất của người dân.

TS Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh.

"Điều chúng tôi tâm đắc nhất không phải chỉ là số lượng mô hình hay quy trình kỹ thuật đã được chuyển giao. Điều quý giá hơn là chúng tôi đã chứng kiến sự thay đổi trong nhận thức và tư duy sản xuất của người dân.

Từ chỗ còn e ngại với công nghệ mới, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đầu tư, học hỏi và làm chủ kỹ thuật. Nhiều cán bộ kỹ thuật cơ sở đã trở thành những hạt nhân lan tỏa tri thức khoa học tại địa phương. Nhiều mô hình sau khi kết thúc dự án vẫn tiếp tục được duy trì, phát triển và trở thành điểm tham quan, học tập cho các vùng khác", TS Nguyễn Văn Tỉnh bày tỏ.

Còn bà Phan Thúy Hiền - Phó Viện trưởng Viện Dược liệu chia sẻ: "Chương trình không chỉ hình thành các vùng sản xuất dược liệu tập trung, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân, các dự án còn góp phần thay đổi tập quán sản xuất từ kinh nghiệm truyền thống sang sản xuất theo quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và định hướng thị trường.

Nhiều địa phương đã mạnh dạn đưa các loại cây dược liệu có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất".

Ông Bùi Duy Ngọc - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng đánh giá: "Hoạt động chuyển giao không chỉ hỗ trợ được máy móc thiết bị, công nghệ mới cho doanh nghiệp, mà còn làm thay đổi mạnh mẽ tư duy sản xuất của đồng bào dân tộc và công nhân địa phương".

Ông Ngọc cho biết, qua các khóa tập huấn, người dân đã hiểu rõ ý nghĩa của việc ứng dụng khoa học công nghê, hình thành tác phong và kỷ luật công nghiệp. Đồng thời, bà con nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, tận dụng triệt để phế phụ phẩm nông lâm nghiệp để tạo ra giá trị kinh tế, từ đó gắn bó và yên tâm hơn với nghề trồng rừng.

"Sản phẩm của Chương trình không dừng lại ở những con số sản lượng sản phẩm, mà chính là sự thay đổi căn bản trong hệ tư duy của người dân và doanh nghiệp, đây chính là nền tảng nội lực vững chắc nhất để các địa phương vùng cao tự chủ phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong tương lai", ông Bùi Duy Ngọc nói thêm.

Hướng tới tương lai bền vững

Các sản phẩm của một dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025.

Các sản phẩm của một dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025.

Dù đạt được nhiều thành tựu, các đại biểu tại hội thảo cũng thẳng thắn chỉ ra những thách thức về thủ tục hành chính, năng lực tiếp nhận công nghệ ở vùng sâu vùng xa và sự biến động của thị trường.

Để khoa học và công nghệ tiếp tục là động lực trong giai đoạn tới, các đơn vị kiến nghị cần đơn giản hóa thủ tục, tăng định mức hỗ trợ và chú trọng hơn vào chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và kinh tế tuần hoàn. Những "hạt giống" khoa học đã gieo trồng trong 10 năm qua kỳ vọng sẽ tiếp tục nảy mầm, xây dựng một nền nông nghiệp Việt Nam xanh, hiện đại và thịnh vượng hơn.

Phân tích về những khó khăn và rủi ro đặc thù của Chương trình, Thứ trưởng Lê Xuân Định lưu ý cần có mô hình quản lý phù hợp, không nên áp dụng công thức quản lý dự án khoa học và công nghệ thông thường (với đầu ra là bài báo quốc tế hay bằng sáng chế) cho Chương trình này, vì đây là giai đoạn thương mại hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm cụ thể.

Thứ trưởng Lê Xuân Định chỉ ra 3 rủi ro lớn khi thực hiện Chương trình: Một là rủi ro thiên tai, thời tiết khắc nghiệt như lũ quét có thể xóa sạch mọi thành quả đầu tư. Hai là năng lực quản lý của đối tượng thụ hưởng. Người dân và doanh nghiệp nhỏ tại vùng sâu vùng xa đôi khi chưa đủ kỹ năng quản trị dự án đường dài (3-5 năm) theo các quy định khắt khe về tài chính của nhà nước, dẫn đến mất kết nối giữa yêu cầu quản lý và khả năng thực hiện. Ba là tầm nhìn thị trường. Việc dự báo thị trường cho 3-5 năm tới khi sản phẩm ra đời là một thách thức rất lớn.

Thứ trưởng nhấn mạnh, Chương trình cần đổi mới mạnh mẽ về tư duy và phương thức triển khai để khoa học và công nghệ thực sự là đột phá chiến lược. Các hướng chuyển đổi chính bao gồm: Từ hỗ trợ mô hình riêng lẻ sang giải quyết các bài toán phát triển của địa phương và phát triển chuỗi giá trị, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Từ chuyển giao công nghệ sang làm chủ công nghệ, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Từ đánh giá theo số lượng mô hình sang đánh giá theo hiệu quả kinh tế-xã hội và khả năng đóng góp vào tăng trưởng của địa phương.

Thứ trưởng tin tưởng rằng, với những nền tảng đã có, Chương trình sẽ tiếp tục được kế thừa và phát triển, trở thành công cụ quan trọng đưa tri thức vào đời sống, mang lại sự thịnh vượng cho người dân từng vùng miền.

Chúng tôi mong muốn trong thời gian tới sẽ tiếp tục có một chương trình kế thừa để những kết quả nghiên cứu khoa học không bị dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm mà tiếp tục được lan tỏa sâu rộng hơn tới các địa phương.

TS Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh

Đồng tình với quan điểm này, TS Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh mong muốn trong thời gian tới sẽ tiếp tục có một chương trình kế thừa để những kết quả nghiên cứu khoa học không bị dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm mà tiếp tục được lan tỏa sâu rộng hơn tới các địa phương. Đồng thời, tăng cường sự liên kết giữa cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương để hình thành các chuỗi giá trị bền vững. Có cơ chế hỗ trợ mạnh hơn đối với hoạt động chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng các mô hình trình diễn tại vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bà Phan Thúy Hiền - Phó Viện trưởng Viện Dược liệu cũng kiến nghị Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và triển khai Chương trình trong giai đoạn tiếp theo; đồng thời tăng cường hỗ trợ các nhiệm vụ ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc sản địa phương, phát triển vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn chất lượng, chuyển đổi số trong sản xuất và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Đây cũng là giải pháp thiết thực nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực nông thôn, miền núi.

THẢO LÊ

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/khoa-hoc-cong-nghe-don-bay-nang-cao-sinh-ke-thay-doi-dien-mao-nong-thon-mien-nui-post971744.html