Khoa học, công nghệ trong giáo dục nghề nghiệp tạo bước đột phá tăng năng suất lao động

Mới đây, tại hội nghị sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, để chuẩn bị nguồn nhân lực về lâu dài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ phải coi chuẩn bị nguồn nhân lực hôm nay chính là năng lực cạnh tranh quốc gia trong ngày mai.

Xưởng thực hành điện tử bán dẫn Trường cao đẳngCcơ giới và Thủy lợi (Ảnh: NGỌC CHÂU)

Xưởng thực hành điện tử bán dẫn Trường cao đẳngCcơ giới và Thủy lợi (Ảnh: NGỌC CHÂU)

Trong bối cảnh đó, ngành giáo dục, các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp cần rà soát lại chương trình đào tạo, ưu tiên các ngành công nghệ chiến lược, đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số, năng lực chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và nhất là ứng dụng AI…

Công nghệ AI, bán dẫn và trọng trách R&D

Thế giới đang chứng kiến một cuộc chạy đua về công nghệ mà ở đó, các siêu cường và các nền kinh tế phát triển như Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản và Hàn Quốc đang chi ra hàng trăm tỷ USD để trợ cấp cho ngành bán dẫn và AI. Các đạo luật như CHIPS Act của Mỹ hay các quỹ đầu tư quốc gia khổng lồ của Trung Quốc đã thiết lập những rào cản gia nhập ngành (barriers to entry) cao đến mức không thể vượt qua đối với các quốc gia đang phát triển nếu họ cố gắng cạnh tranh trực tiếp ở khâu nghiên cứu cơ bản và sản xuất vi mạch lõi (foundry).

Thực tiễn 18 tháng triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW đã cho thấy, các nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được. Việt Nam cần một chiến lược dài hạn đầu tư nguồn lực mạnh mẽ bắt đầu từ giáo dục mầm non, lớp một, và hệ thống giáo dục phổ thông. Bởi chất lượng của một nền kinh tế số trong tương lai không được quyết định bởi số lượng các bài báo khoa học công bố quốc tế ngày hôm nay, mà được quyết định bởi nền tảng tư duy logic, năng lực toán học và kỹ năng giải quyết vấn đề của các em học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường. Do đó, thu hút tài năng Toán học và khối ngành STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học) cần được thực hiện bằng các chính sách tài trợ, cấp học bổng thiết thực và mạnh mẽ cho cả người học và người dạy ngay từ những bậc học đầu tiên. Chính phủ và ngành giáo dục cần có những bước tiến đột phá để hiện thực hóa tầm nhìn.

Để Việt Nam phát triển AI, công nghiệp bán dẫn và các công nghệ mới chính là thực hiện gắn nghiên cứu và phát triển (R&D) không tách rời dây chuyền sản xuất; R&D được thực hiện bởi chính những người công nhân kỹ thuật cao, những chuyên gia lành nghề của doanh nghiệp cùng với giảng viên và sinh viên của hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Khi một giải pháp công nghệ được nghiên cứu thành công ngay tại nhà máy, lập tức trở thành một quy trình sản xuất mới, và sản phẩm sẽ đến tay cộng đồng người tiêu dùng gần như ngay lập tức, không gặp phải độ trễ chuyển giao.

Khi đã xác định rõ việc nghiên cứu cơ bản tại viện, trường đại học sẽ mất nhiều thời gian và Việt Nam cần ưu tiên ngân sách cho giáo dục nền tảng (mầm non, tiểu học) và bài toán nghiên cứu phát triển (R&D), thương mại hóa sản phẩm sẽ là dịch chuyển trọng tâm đầu tư nghiên cứu khoa học cho hệ sinh thái giáo dục nghề nghiệp-doanh nghiệp-cộng đồng người tiêu dùng.

Trong tổng thể hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia bao gồm Nhà nước-viện nghiên cứu, trường đại học-giáo dục nghề nghiệp-doanh nghiệp-cộng đồng người tiêu dùng, mỗi chủ thể cần được tái phân vai một cách triệt để. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, ban hành hành lang pháp lý (như cơ chế thử nghiệm Sandbox) và cung cấp ưu đãi thuế. Viện nghiên cứu và trường đại học đóng vai trò tinh giản, cung cấp các lý thuyết lõi, chuẩn hóa kiến thức nền tảng và nghiên cứu các định hướng khoa học dài hạn. Phần không gian còn lại, nơi tạo ra của cải vật chất thực sự với tốc độ cao, thuộc về giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp.

Để giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp có thể gánh vác trọng trách R&D, hệ thống giáo dục quốc dân cần phải thay đổi sâu sắc dựa trên triết lý "thực học, thực nghiệp". Trong đó, tư duy giáo dục nghề nghiệp kết hợp doanh nghiệp “Corporate Pull” đặt doanh nghiệp và nhà máy vào vị trí trung tâm của hệ sinh thái đào tạo xác định nội dung khóa học, đưa ra các bài toán kỹ thuật thực tế, các lỗi hỏng hóc trên dây chuyền, hoặc các yêu cầu cải tiến sản phẩm để làm "đề tài" học tập và nghiên cứu-phát triển (R&D) cho sinh viên giáo dục nghề nghiệp. Các tiêu chí đánh giá tự động cũng được thiết lập dựa trên quy chuẩn vận hành khắt khe của môi trường công nghiệp thực tế. Nhờ lực kéo của doanh nghiệp, sinh viên giáo dục nghề nghiệp không học những kiến thức vô bổ, trực tiếp tham gia vào quá trình giải quyết các điểm nghẽn công nghệ của doanh nghiệp. Quá trình học tập đồng nhất với quá trình nghiên cứu ứng dụng (Applied R&D). Kết quả của việc học chính là những sáng kiến cải tiến kỹ thuật được thương mại hóa ngay lập tức.

Đào tạo song hành và chuẩn chuyên gia kỹ thuật cao

Mô hình đào tạo song hành (Dual System) là sự hợp tác hữu cơ giữa nhà nước, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp. Người học sẽ trải qua quá trình đào tạo song song: Một phần thời gian học lý thuyết tại trường (áp dụng phần 10% của cấu trúc Lean Learning), và phần lớn thời gian (thường là 3-4 ngày một tuần) làm việc như một nhân viên tập sự có lương ngay tại doanh nghiệp (áp dụng phần 20% và 70% còn lại).

Để quản trị hệ thống phức tạp một cách minh bạch và thúc đẩy doanh nghiệp tiếp nhận sinh viên, Việt Nam cần thực hiện chuyển đổi số toàn diện. Xây dựng Cổng thông tin điện tử Giáo dục Nghề nghiệp Quốc gia và từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu học liệu song hành thực học, thực nghiệp mở là yêu cầu bắt buộc. Điểm đột phá mang tính chiến lược là việc liên thông toàn diện cơ sở dữ liệu học liệu mở, cấp phát chứng chỉ số dưới dạng NFT (Non-Fungible Token) để chống làm giả, và đặc biệt là kết nối học bạ số năng lực nghề nghiệp trên ứng dụng VNeID của Bộ Công an cùng với hệ thống cơ sở dữ liệu của Bảo hiểm xã hội.

Khi dữ liệu được liên thông, hệ sinh thái giáo dục sẽ gắn kết chặt chẽ với hệ sinh thái việc làm. Hệ thống số hóa cho phép cơ quan quản lý nhà nước đối soát tự động (automated verification). Khi một doanh nghiệp tiếp nhận sinh viên giáo dục nghề nghiệp vào làm việc thực tiễn và tham gia R&D, hệ thống sẽ ghi nhận tỷ lệ việc làm thực tế thông qua việc doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động sau tốt nghiệp. Từ dữ liệu chính xác, hệ thống tự động kích hoạt các gói ưu đãi thuế hoặc hạch toán trực tiếp mọi chi phí giáo dục nghề nghiệp vào chi phí được trừ hợp lệ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Nhà nước chuyển đổi phương thức từ quản lý "tiền kiểm" (cấp phép hoạt động đào tạo một cách cứng nhắc, hành chính) sang quản trị "hậu kiểm" (đánh giá năng lực đào tạo thông qua tỷ lệ có việc làm thực tế và đóng góp cho kinh tế), giúp cắt giảm hàng loạt giấy phép con và thủ tục hành chính phiền hà cho doanh nghiệp.

Sinh viên nghề Điện công nghiệp (Trường cao đẳng nghề Bách khoa Hà Nội) bảo vệ đồ án tốt nghiệp (Ảnh:hactech.edu.vn)

Sinh viên nghề Điện công nghiệp (Trường cao đẳng nghề Bách khoa Hà Nội) bảo vệ đồ án tốt nghiệp (Ảnh:hactech.edu.vn)

Kiểm soát chất lượng và chuyển đổi nghề nghiệp

Khi quản lý nhà nước chuyển sang "hậu kiểm", thị trường lao động cần một chốt chặn cuối cùng để bảo đảm an toàn kỹ thuật, đặc biệt là trong việc ứng dụng các công nghệ mới, rủi ro cao. Đó là lúc tham chiếu mô hình đào tạo chuyên gia Meister (mô hình của Đức). Giải pháp tích hợp mô hình Meister vào hệ thống kiểm soát chất lượng lao động sẽ định hình lại toàn bộ tư duy quản lý. Áp dụng mô hình Meister thay thế cho các loại giấy phép hành nghề cá nhân, nâng cao độ chặt chẽ và chuẩn hóa hệ thống chứng chỉ cá nhân đến mức tối đa.

Hệ thống yêu cầu những cá nhân muốn làm chủ doanh nghiệp, hoặc muốn hành nghề độc lập, chỉ huy các dự án R&D ứng dụng trong các lĩnh vực kỹ thuật phức tạp (như lắp đặt hệ thống tự động hóa công nghiệp, bảo trì trạm sạc xe điện, điều khiển bay UAV) bắt buộc phải trải qua quá trình học tập thực nghiệp khắt khe và được công nhận năng lực bằng chứng chỉ Chuyên gia (Meisterbrief). Thay vì nhà nước đi thanh tra, kiểm tra từng quy trình của doanh nghiệp bằng các giấy phép con (sub-licenses), nhà nước chỉ cần kiểm soát năng lực của người đứng đầu kỹ thuật. Một doanh nghiệp có các chuyên gia Meister vận hành sẽ tự động trở thành những trung tâm R&D quy mô nhỏ, có khả năng ứng dụng khoa học công nghệ ngay vào cuộc sống và thương mại hóa sản phẩm một cách an toàn, tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng cao nhất.

Cùng với kiểm soát chất lượng, việc chuyển đổi nghề nghiệp cho khu vực phi chính thức là cách nhanh nhất để tăng năng suất toàn xã hội thay cho các dự án đầu tư vốn lớn với hiệu suất sử dụng vốn giảm dần theo quy mô. Thực tế hiện nay thất nghiệp thanh niên từ 15-24 tuổi đang ở mức 9%-10%. Quý III năm 2026, dự báo có tới 1,6 triệu thanh niên trẻ tuổi có thể đứng ngoài lề thị trường lao động và hệ thống giáo dục, cùng với tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng chung của toàn nền kinh tế luôn dao động quanh mức 3,9%-4%, là tổn thất nguồn lực trí tuệ khổng lồ. Do đó, ứng dụng mô hình giáo dục nghề nghiệp kết hợp doanh nghiệp (Corporate Pull) thì 1,6 triệu thanh niên chính là "đội quân dự bị" hùng hậu để Việt Nam chiếm lĩnh các mảng ứng dụng công nghệ mới. Các lĩnh vực như bảo trì thiết bị bay không người lái (UAV), lập trình viên bậc trung cho các hệ thống tự động hóa cơ điện, kỹ thuật viên kiểm thử trong ngành bán dẫn, hay vận hành viên nông nghiệp thông minh…

Bằng việc đưa lực lượng thanh niên thất nghiệp vào hệ thống đào tạo song hành (Dual System), người học sẽ ngay lập tức được doanh nghiệp tuyển dụng dưới dạng thực tập sinh có trả lương. 70% thời gian họ được làm việc trên dây chuyền thiết bị thực tế, 20% học hỏi từ các chuyên gia Meister của công ty, và chỉ 10% học lý thuyết cốt lõi qua các học phần số hóa, giúp xóa sổ tình trạng thất nghiệp thanh niên, giải quyết bài toán an sinh xã hội, và cung cấp lực lượng lao động khổng lồ, giá cả cạnh tranh để các doanh nghiệp công nghệ tại Việt Nam mở rộng quy mô ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm.

Có thể thấy, trong cuộc đua công nghệ toàn cầu, chiến lược tối ưu nhất là tập trung đầu tư vào con người, vào ứng dụng công nghệ và đầu tư dài hạn cho giáo dục STEM từ sớm. Trọng tâm nghiên cứu cần chuyển dịch sang hệ sinh thái giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp. Trong đó, mô hình "Corporate Pull" cùng đào tạo song hành đặt doanh nghiệp làm trung tâm dẫn dắt thực nghiệp; chất lượng đào tạo được kiểm soát qua hệ thống học liệu mở, học bạ số, chứng chỉ số hóa kết nối VNeID và mô hình chuyên gia Meister; chuyển đổi hàng triệu thanh niên thất nghiệp, lao động phi chính thức trở thành lực lượng kỹ thuật cao, đáp ứng nền kinh tế số, kinh tế xanh bền vững toàn diện.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thị Tú Anh Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/khoa-hoc-cong-nghe-trong-giao-duc-nghe-nghiep-tao-buoc-dot-pha-tang-nang-suat-lao-dong-post973304.html