Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo

Việt Nam đã chính thức vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Mục tiêu tiếp theo là xây dựng nền công nghiệp hiện đại, là quốc gia đang phát triển. Đây cũng là chủ đề Hội thảo do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp cùng Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) và Viện Kinh tế và Dịch vụ Nhân sinh tổ chức sáng 15-7.

Mô hình tăng trưởng theo chiều sâu

Báo cáo tại Hội thảo cho biết, tính đến cuối năm 2025, quy mô GDP của Việt Nam đạt trên 514 tỷ USD, với GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD và tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người là 4.970 USD. Mức thu nhập này vượt ngưỡng 4.636 USD - tiêu chí để được xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao theo phân loại mới của World Bank. Như vậy, theo chuẩn phân loại của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đã chính thức gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, Việt Nam mới ở ngưỡng đầu của thu nhập trung bình cao.

Để thực hiện mục tiêu chiến lược đưa GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030, các tham luận tại hội thảo chỉ rõ nền kinh tế cần đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030. Đây là mục tiêu có tính tham vọng lớn, đòi hỏi phải thay đổi căn bản phương thức phát triển, chuyển dịch mạnh mẽ từ tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên vốn, tài nguyên, lao động sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)...

Trong 5 năm tới, tăng trưởng hai con số không chỉ là một khẩu hiệu mang tính khát vọng. Phía trước vẫn là thách thức lớn, đặc biệt là nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” - vấn đề nhiều nền kinh tế từng gặp phải sau khi bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.

Quang cảnh Hội thảo

Quang cảnh Hội thảo

Hiện Việt Nam vẫn mắc kẹt trong “bẫy gia công, lắp ráp” - xuất khẩu tăng, nhưng giá trị gia tăng giữ lại trong nước không tăng tương xứng, vì công nghiệp hỗ trợ còn yếu, liên kết FDI còn lỏng lẻo. Đầu tư khoa học công nghệ vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, trong khi ở các nền kinh tế đi trước, khu vực tư nhân mới là động lực chính. PGS. TS Vũ Văn Phúc (Chủ nhiệm đề tài) nhấn mạnh: “Muốn tự chủ chiến lược về kinh tế, Việt Nam phải chuyển mạnh sang sản xuất theo chiều sâu, tăng năng suất của các yếu tố tổng hợp (TFP) đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo công nghệ mới.

TS. Lê Quốc Phương (Nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp & Thương mại - Bộ Công Thương) cho rằng, để chuyển dịch mô hình công nghiệp thành công, Việt Nam cần thay đổi căn bản chiến lược hội nhập và xuất nhập khẩu. Độ mở thương mại lớn là lợi thế nhưng cũng khiến nền kinh tế nhạy cảm trước các cú sốc bên ngoài. Mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa các ngành công nghiệp chủ lực lên 40-45% đòi hỏi chính sách công nghiệp phải tập trung xây dựng năng lực tự chủ, thúc đẩy liên kết thực chất giữa khối FDI và doanh nghiệp nội địa, thay vì chỉ dừng lại ở phân khúc gia công, lắp ráp ở hạ nguồn chuỗi giá trị.

Theo ông, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực tăng trưởng chủ đạo, thông qua việc thúc đẩy nghiên cứu và phát triển, sandbox công nghệ, trí tuệ nhân tạo, fintech, bán dẫn, kinh tế số, tài sản số…

“Việt Nam cần không ngừng đổi mới, sáng tạo, tiếp tục cải cách môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh và thể chế, đồng thời xây dựng một mô hình tăng trưởng mới phù hợp hơn với nền kinh tế phát triển có thu nhập cao”, ông nói.

PGS.TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tài chính Việt Nam đồng quan điểm khi cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh những cải cách đã được khởi xướng trong thời gian qua, đồng thời chuyển đổi mô hình tăng trưởng để phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học – công nghệ và năng lực tự chủ sáng tạo. Không chỉ tăng trưởng nhanh, mà phải tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực nội sinh. Theo PGS.TS Ngô Trí Long bốn nền tảng cần triển khai đồng bộ đó là Công nghiệp hiện đại; KH–CN, dữ liệu, số hóa; Nguồn nhân lực mới; Thể chế khuyến khích đổi mới.

Tăng tính tự chủ cho nền kinh tế

Trên cơ sở phân tích thực trạng trong nước và cập nhật kinh nghiệm quốc tế, các chuyên gia chỉ ra giải pháp trọng tâm cho giai đoạn đến năm 2030. Đó là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển: Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển, đi trước một bước để mở đường cho các mô hình kinh tế mới. Khẩn trương triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với tài sản số, tài chính số; đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực;

Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Phải có công nghệ của Việt Nam (made by Vietnam) để tạo ra hàng hóa của Việt Nam (made by Việt Nam) cạnh tranh được trên thị trường thế giới, làm cơ sở vững chắc cho Việt Nam phát triển hùng cường, tự chủ chiến lược... Đầu tư hạ tầng số đồng bộ để thúc đẩy số hóa các ngành truyền thống như nông nghiệp, logistics, tài chính, sản xuất công nghiệp, phấn đấu đưa kinh tế số chiếm 30% GDP vào năm 2030... TS. Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam nhấn mạnh, Việt Nam đang ở trong "thời điểm vàng" để phát triển AI nhờ sự hội tụ của ba yếu tố: nguồn nhân lực trẻ dồi dào, hành lang pháp lý cởi mở (nổi bật là dự thảo Luật AI và Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị), và làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu. Việc tích hợp AI vào thực tiễn trong các ngành trọng điểm như y tế, sản xuất, và quản lý đô thị sẽ thúc đẩy nền kinh tế AI bứt phá mạnh mẽ.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng, trình độ cao và văn hóa phát triển: Đổi mới giáo dục đại học và đào tạo nghề theo hướng tăng tỷ trọng các ngành STEM, công nghệ bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI).

TS Trần Quốc Toản, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đề cập đến phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu quả dẫn dắt của đầu tư công với kế hoạch vốn 8,22 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026-2030, tập trung dứt điểm vào hạ tầng giao thông chiến lược và hạ tầng số để tạo hiệu ứng lan tỏa thu hút vốn xã hội...

Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc pháp lý cho hơn 3.000 dự án tồn đọng trong giai đoạn 2026-2030. Khơi thông nguồn lực đất đai, tài sản công từ các dự án này ước tính có thể bổ sung khoảng 6 triệu tỷ đồng và 350 nghìn héc-ta đất, hỗ trợ trực tiếp tạo đà cho việc tăng trưởng GDP hằng năm...

Trâm Anh

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-phai-tro-thanh-dong-luc-tang-truong-chu-dao-1212142.html