Khóa Hư Lục trong Mạch Thiền Trúc Lâm (Hết)

Khóa hư lục không chỉ có giá trị về mặt tôn giáo, chứa đựng tinh hoa văn hóa, lịch sử và tư tưởng triết học thời Trần; hơn hết, nét đặc sắc trong tư tưởng thiền học, các phương pháp thực hành để đạt đến sự giải thoát trong hiện đời mới là điều trọng yếu mà vua Trần Thái Tông muốn gửi gắm.

Khóa Hư Lục trong Mạch Thiền Trúc Lâm (P.1)

Khóa Hư Lục trong Mạch Thiền Trúc Lâm (P.2)

Khóa Hư Lục trong Mạch Thiền Trúc Lâm (P.3)

Kết luận

Trần Thái Tông, vị vua khai sáng triều đại nhà Trần mà không động đến đao binh, là một bậc minh quân, tài đức vẹn toàn. Ngài có mặt trên cõi đời vỏn vẹn 59 năm, nhưng đã để lại cho quốc gia Đại Việt cả một giang sơn gấm vóc hùng vĩ, đặt nền tảng vững chắc cho các đời vua sau tiếp bước. Đồng thời, ngài cũng là một người có tài văn chương, học rộng, xem khắp các kinh luận nhà Phật; nhờ đó, ngài đã trước thuật nhiều tác phẩm có giá trị Phật học để lại cho hậu thế. Trong số đó, Khóa hư lục còn lưu hành ở đời, có thể xem là hiện thân của từ bi, trí tuệ và giải thoát.

Khóa hư lục không chỉ có giá trị về mặt tôn giáo, chứa đựng tinh hoa văn hóa, lịch sử và tư tưởng triết học thời Trần; hơn hết, nét đặc sắc trong tư tưởng thiền học, các phương pháp thực hành để đạt đến sự giải thoát trong hiện đời mới là điều trọng yếu mà vua Trần Thái Tông muốn gửi gắm. Mở đầu, tác phẩm đề cập đến cái khổ, nhưng đâu phải nói khổ để rồi bi quan, yếm thế, chán chường; trái lại, chỉ thẳng cái khổ để nắm tay dẫn đến niềm vui giải thoát. Đi sâu nghiên cứu tác phẩm Khóa hư lục, giúp chúng ta thấy rõ vai trò quan trọng của tư tưởng, triết lý và pháp hành mà vua Trần Thái Tông đã trình bày; đó là cơ sở nền tảng định hình và phát triển Thiền phái Trúc Lâm sau này - một dòng thiền mang đậm bản sắc dân tộc Việt do vua Trần Nhân Tông khai sáng.

Trước hết, trên phương diện vũ trụ quan và nhân sinh quan, vua Trần Thái Tông đã đem đến một cái nhìn toàn diện và cân bằng về cuộc sống, giúp mọi người nhận thức được thân này là gốc khổ, là tổ hợp của bệnh tật, khổ đau. Ngài đưa ra tư tưởng vạn pháp giai không (tất cả pháp đều vô thường, tan hoại) giúp con người có cái nhìn sâu sắc về tính tạm bợ của cuộc đời, mong manh của kiếp người; từ đó, hướng con người đến các giá trị chân - thiện - mỹ, tu tập các hạnh lành để được sống trong một đất nước coi trọng đạo đức. Ngài khuyến khích mọi người mau mau gieo giống lành, chớ trồng nhân ác, mỗi sớm siêng năng tu trì, hầu mong hiện đời rõ được chân tâm, vượt thoát sông mê bể khổ, rủ lòng từ cứu độ quần sinh.

Tư tưởng hữu niệm và vô niệm tạo nên một phương thức tu hành hiệu quả, giúp cho hành giả nhận chân được cái Vô. Đó là chỗ rốt ráo tuyệt đối cần thể nhập. Hai đối cực hữu - vô đã lý giải tường tận về con đường ngược chiều trong công phu tu tập. Hữu thì đi vào trùng trùng sinh tử; Vô thì tự tại giải thoát. Vua Trần Thái Tông đưa ra các lý tưởng sống cụ thể: ngộ tâm, giải thoát, hướng tới một cuộc sống thanh tịnh, an lạc. Điều này có ý nghĩa thiết thực đối với từng cá nhân và cả quốc gia, dân tộc.

Những tư tưởng nổi bật được thể hiện trong Khóa hư lục như: Phật tại tâm, vô sở trụ, thiền giáo đồng hành, tinh thần nhập thế vô nhiễm là những yếu tố tối quan trọng giúp người tu hành có cái nhìn tổng thể, tích cực đối với Phật giáo, đặc biệt là Thiền tông. Người tường minh được các tư tưởng này, không chỉ giải thoát cho bản thân mà còn đem lại nhiều tác động tích cực cho mọi người và xã hội. Tư tưởng Phật tại tâm, giúp xác quyết vấn đề giác ngộ không nằm ở hình thức bên ngoài, mà xuất phát từ tâm trí của mỗi người. Phật không có trong rừng sâu, Phật ở ngay trong lòng mỗi người. Lòng trong sạch, không có mảy may niệm lự, thường sáng biết, ngay đó là Phật thật. Điều này hướng con người đến việc tu dưỡng tâm tánh, giảm đi tính phụ thuộc vào vật chất, lệ thuộc vào tha lực, giúp họ đạt được sự thanh thản, an lạc trong tâm hồn. Thêm vào đó, tư tưởng vô sở trụ cũng là một điểm nhấn trong Khóa hư lục. Hành giả tu tập đạt đến chỗ vô sở trụ mới có thể tự tại, tùy duyên, làm tất cả việc lợi đạo ích đời mà tâm không vướng bận. Phải vô sở cầu, vô sở trụ, vô sở đắc thì mới nên đi vào đời làm các việc thiện nguyện, giúp ích cho người khác. Có như thế mới gọi là nhập thế vô nhiễm, bằng không sẽ bị cuộc thế xoay chuyển, cuốn trôi theo dòng xoáy của ngũ dục, tham sân.

Qua tác phẩm Khóa hư lục, vua Trần Thái Tông đã truyền bá tư tưởng giải thoát, hướng con người đến đời sống thiện lương và thanh tịnh, có cái nhìn vượt thoát đối với vạn pháp trên thế gian. Giải thoát chỉ hiện hữu khi nội tâm vắng bặt mọi tham ưu, phiền não. Giải thoát chỉ có ở một tâm hồn trong sáng, thanh cao, không một niệm thiện - ác. Giải thoát chỉ có mặt khi nào hành giả thành tựu trọn vẹn ba môn học vô lậu giới - định - tuệ. Tư tưởng giải thoát của vua Trần Thái Tông không những giúp cho cá nhân chuyển hóa khổ đau, nâng cao giá trị đạo đức; nó còn là nền tảng để hình thành tư tưởng cư trần lạc đạo của Sơ tổ Trúc Lâm sau này.

Muốn tiến đến đích giải thoát, tất nhiên không thể thiếu phương pháp hành trì cụ thể. Pháp học và pháp hành phải được vận dụng đúng mức thì mới cho ra kết quả như nguyện. Các pháp tu cụ thể được vua Trần Thái Tông nhắc đến trong Khóa hư lục như: Sám hối nghiệp chướng, thiền định, niệm Phật. Riêng pháp môn niệm Phật, chúng tôi đưa vào phần phương tiện tùy cơ để độ sinh vì những lý do đã phân tích (mục 2.4.3). Qua nghiên cứu cho thấy, tác phẩm Khóa hư lục đem lại lợi ích thiết thực cho cá nhân và xã hội, chứa đựng giá trị ứng dụng thực tiễn đối với Thiền phái Trúc Lâm.

Về mặt cá nhân, Khóa hư lục mang đến cho hành giả cũng như học giả hệ thống phương pháp thực hành nhằm chuyển hóa nội tâm, đạt đến giác ngộ. Vua Trần Thái Tông đã phối hợp nhịp nhàng giữa việc giảng dạy giáo lý để mọi người nắm chắc về lý thuyết, cùng với đó là hướng dẫn pháp hành cụ thể, đi vào thực tế, dễ ứng dụng. Việc đầu tiên cần làm là giúp hành giả thấy rõ bản chất của cuộc đời là vô thường, khổ đau và tạm bợ. Tiếp đó, mới chỉ cho mọi người cùng tin và nhận ra bản tâm thanh tịnh vốn sẵn, còn gọi là Phật thật nơi mình. Nhận ra và sống được với chân Phật ấy thì mọi người mới cảm nhận được sự tự do, tự tại: tự do trong khuôn khổ, bình yên giữa loạn động, giải thoát ngay trong ràng buộc. Từ đó, phát triển đời sống đạo đức, thanh cao, trong sáng, tránh xa những cám dỗ và tham vọng phù phiếm.

Về mặt xã hội, Khóa hư lục mang ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng đời sống hòa bình, dân chủ, bình đẳng và hài hòa trong cộng đồng. Việc khuyến khích mọi người dân không riêng tín đồ Phật giáo, cùng nhau tu trì Ngũ giới là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, tốt đẹp. Năm nguyên tắc sống: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu được đề cao, sẽ góp phần tạo nên một hệ giá trị đạo đức cơ bản, khuyến khích con người sống lương thiện, sống theo tinh thần khoan dung, từ bi; biết tha thứ, biết tôn trọng nhau và hướng đến một xã hội trật tự, ổn định, giàu lòng nhân ái.

Hiện nay, tinh thần thừa tiếp các truyền thống văn hóa dân tộc thời nhà Trần đang được kế thừa và phát huy. Đặc biệt là nội dung tư tưởng thiền học, triết lý Phật giáo, tính thực tiễn của các pháp tu được vua Trần Thái Tông hướng dẫn trong Khóa hư lục, đã và đang được ứng dụng trong đời sống tu tập của tăng ni, Phật tử thuộc Thiền phái Trúc Lâm. Qua đó, ta thấy được sợi chỉ vàng nối kết giữa dòng Thiền Trúc Lâm đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm hiện nay, do Hòa thượng Tôn sư Trúc Lâm khôi phục, xiển dương.

Trên con đường phục hưng dòng Thiền Trúc Lâm, Hòa thượng Tôn sư Trúc Lâm - bậc thạch trụ thiền môn của thời hiện đại, đã tiếp nối chí nguyện hoằng pháp độ sinh từ chư vị thiền tổ Trúc Lâm. Ngài không chỉ nỗ lực khơi lại mạch nguồn Trúc Lâm đã mờ nhạt suốt nhiều thế kỷ, mà còn kiến lập thiền viện, biên soạn Thanh quy, tổ chức thời khóa tu học cho tăng ni trong tinh thần thiền giáo đồng hành. Với tầm nhìn sâu rộng và công hạnh kiên định, Hòa thượng đã làm sống lại tinh thần “phản quan tự kỷ, trực ngộ bản tâm” trong lòng người học đạo hôm nay, đưa Thiền phái Trúc Lâm bước vào thời kỳ hưng thịnh của thế kỷ XXI, vừa giữ được hồn xưa của dân tộc, vừa thích nghi với thời đại mới. Có thể nói, hoạt động phiên dịch, giảng giải tác phẩm Khóa hư lục của Hòa thượng Tôn sư Trúc Lâm, đã góp phần to lớn trong việc tiếp sáng mạch Thiền Trúc Lâm đời Trần, khơi lại niềm tin vào pháp tu thiền, dựng lại thiền phong cho hàng tăng ni, Phật tử trên bước đường tu học hướng đến giác ngộ, giải thoát.

Tóm lại, Khóa hư lục là một tác phẩm mang giá trị vượt thời gian, vừa là cẩm nang tu hành cho người học Phật, vừa là bản nguyện tâm linh của một bậc minh quân hướng thượng, từ bi, trí tuệ. Những tư tưởng, triết lý, phương pháp tu tập được vua Trần Thái Tông trình bày trong tác phẩm không chỉ giúp cho hành giả tìm được giá trị chân thật đối với lý tưởng giác ngộ, giải thoát; đối với quốc gia dân tộc, những lời dạy gần gũi, thiết thực trong Khóa hư lục góp phần điều hướng con người sống và làm việc với một tinh thần lạc quan, tích cực; cùng nhau chung tay xây dựng đời sống xã hội nhân văn, đạo đức. Với những giá trị cao đẹp ấy, Khóa hư lục không những là kim chỉ nam cho người tu hành, mà còn là nguồn cảm hứng lớn lao cho các học giả, nhà nghiên cứu để tâm đào sâu khai thác các tư tưởng, triết lý, tính ứng dụng đối với thời đại.

Trích sách: Khóa Hư Lục trong Mạch Thiền Trúc Lâm

Tác giả: Thích Đạt Ma Thiền Tuệ Thanh

***

Tài liệu tham khảo

• Tài liệu tiếng Việt:
5. Ban Văn hóa Thường Chiếu, Thanh Từ toàn tập, tập 24, “Thánh đăng lục giảng giải”. Nxb. Tôn giáo, Tp. Hồ Chí Minh, 2015.
6. Ban Văn hóa Thường Chiếu, Thanh Từ toàn tập, tập 37, “Thanh quy Thiền phái Trúc Lâm”. Nxb. Tôn giáo, Tp. Hồ Chí Minh, 2014.
7. Ban Văn hóa Thường Chiếu, Thanh Từ toàn tập, tập 39, “Những cảm hứng tùy cảnh”. Nxb. Tôn giáo, Tp. Hồ Chí Minh, 2014.
8. Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú thích và khảo chứng, Đại Việt sử ký toàn thư (tái bản). Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2022.
9. Đào Duy Anh phiên dịch và chú giải, Khóa hư lục. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1974. Thư viện Huệ Quang ảnh ấn, 2019.
10. Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải, Kinh Bốn mươi hai chương. Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2010.
11. HT. Thích Minh Châu, Kinh Tăng Chi Bộ, tập III, IV. Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2020.
12. HT. Thích Thanh Kiểm dịch, Khóa hư lục (trọn bộ). Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1992.
13. HT. Thích Tịnh Hạnh dịch, Đại Tập 138, Bộ Kinh Sớ XXIV, số 1779-1782: “Duy-Ma-Cật kinh nghĩa sớ”, quyển III. Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, 2000.
14. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (tái bản có bổ sung), tập III. Nxb. Đồng Nai, 2023.
15. Lê Mạnh Thát, Toàn tập Chân Nguyên Tuệ Đăng, tập I. Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2018.
16. Lê Mạnh Thát, Toàn tập Minh Châu Hương Hải. Nxb. Tp. Hồ chí Minh, 2000.
17. Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Thái Tông. Nxb.Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2004.
18. Nguyễn Huệ Chi - Đỗ Văn Hỷ - Trần Thị Băng Thanh - Phạm Tú Châu soạn thảo, Thơ văn Lý- Trần, tập II. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1988.
19. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I. Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2022.
20. Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Minh Chi - Lý Kim Hoa - Hà Thúc Minh - Hà Văn Tấn (Viện Triết học), Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2022.
21. Nguyễn Thị Phương, “Quang Khánh thiền tự - Từ tự sự Tôn giáo”, Tạp chí Khoa học (Trường Đại học Thủ đô Hà Nội), số 38 (3/2020), 28-36.
22. Nhiều tác giả, Kỷ yếu 50 năm Thiền viện Chơn Không. Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2016.
23. Nhiều tác giả, Thiền học đời Trần (tái bản). Nxb.Tôn giáo, Hà Nội, 2003.
24. Phạm Đức Anh, Mô hình tổ chức nhà nước ở Việt Nam thế kỷ X-XIX. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2023.
25. HT. Thích Giác Toàn - Trần Hữu Tá (đồng chủ biên), Văn học, Phật giáo với 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Nguyễn Khắc Thuần: “Tăng ban trong bộ máy nhà nước thời Lý-Trần”. Nxb. Văn hóa-Thông tin, Tp. Hồ Chí Minh, 2010.
26. TT. Thích Hạnh Thành biên soạn, Biên niên sử Thiền tông Việt Nam. Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2016.
27. HT. Thích Phước Sơn dịch và chú, Tam tổ thực lục. Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành, Tp. Hồ Chí Minh, 1995.
28. HT. Thích Quảng Độ dịch, Phật Quang đại từ điển, quyển I, II, IV. Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, 2000.
29. HT. Thích Thanh Quyết, Trịnh Khắc Mạnh (đồng chủ biên), Trúc Lâm Yên Tử Phật giáo tùng thư. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2020.
30. HT. Thích Thanh Từ dịch, Thiền sư Trung Hoa, tập I. Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2011.
31. HT. Thích Thanh Từ, Ba vấn đề trọng đại trong đời tu của tôi. Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2015.
32. HT. Thích Thanh Từ, Khóa hư lục giảng giải. Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2008.
33. HT. Thích Thanh Từ, Kinh Pháp Bảo Đàn giảng giải. Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2017.
34. HT. Thích Thanh Từ, Kinh Viên Giác giảng giải. Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2018.
35. HT. Thích Thanh Từ, Tam tổ Trúc Lâm giảng giải. Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2018.
36. HT. Thích Thanh Từ, Thanh quy. Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2010.
37. HT. Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam. Nxb.Hồng Đức, Hà Nội, 2018.
38. HT. Thích Thanh Từ, Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ XX. Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2017.
39. HT. Thích Thanh Từ, Tông môn cảnh huấn. Nxb.Hồng Đức, Hà Nội, 2022.
40. HT. Thích Thanh Từ, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục giảng giải. Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2020.
41. Thiều Chửu diễn nghĩa, Thái Tôn Hoàng đế ngự chế Khóa hư kinh. Nxb. Hưng Long, 1961. Thư viện Huệ Quang ảnh ấn, 2016.
42. Trần Văn Chánh biên soạn, Từ điển Hán – Việt. Nxb. Từ điển Bách khoa, 2014.
43. TT. Thông Thiền - Hân Mẫn, Từ điển Thiền Tông (tân biên, A-O). Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2019.
44. Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phật giáo đời trần, tập III. Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2010.

• Tài liệu tiếng nước ngoài:
45. 《普賢觀經義疏》卷2, CBETA 2024.R1, X35, no.650.
46. 《歸元直指集》卷2,CBETA 2024.R2, X61, no.1156.
47. 《法華經大窾》卷2, CBETA 2024.R2, X31, no.614.
48. 《續高僧傳》卷23, CBETA 2024.R2, T50, no.2060.
49. 《註華嚴法界觀門》卷1,CBETA 2024.R2, T45, no. 1884.
50. 《金剛經註解》卷3, CBETA 2024.R2, X24, no.468.
51. 罗竹风(主编),漢語大詞典.汉语大词典 出版 社,1986.
52. 《中阿含經》卷47, CBETA 2024.R2, T01, no. 26.
53. 《佛說觀無量壽佛經》,CBETA 2024.R1, T12, no.365.
54. 《六祖大師法寶壇經》卷1,CBETA 2024.R2, T48, no. 2008.
55. 《大乘起信論》卷2,CBETA 2024.R2, T32, no. 1667.
56. 《大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴 經》卷6, CBETA 2023. Q4, T19, no. 945.
57. 《大方廣佛華嚴經》卷1 0 〈之三〉,( C BET A2024.R2, T10, no. 279.
58. 《大方廣佛華嚴經》卷42〈之七〉,CBETA 2024.R2, T09, no. 278.
59. 《註華嚴法界觀門》卷1, (CBETA 2025.R1, T45, no. 1884, p. 683b13-14).
60. 《大般涅槃經》卷7,CBETA 2024.R1, T12, no. 374.
61. 《央掘魔羅經》卷2, CBETA 2024.R2, T02, no. 120.
62. 《梵網經》卷2, CBETA 2024.R2, T24, no. 1484.
63. 《永嘉證道歌》卷1, CBETA 2024.R2, T48, no. 2014.
64. 《金剛般若波羅蜜經》卷1, CBETA 2024.R2, T08, no. 235.
65. 陳太宗御製課虛, 慧光書院影印, 2018.

Phụ lục

1. Đối chiếu nội dung Khóa lễ Sáu thời sám hối và nghi thức Sám hối sáu căn

Ghi chú: Để tiện cho việc đối chiếu nội dung, chúng tôi xin được trích dẫn bản dịch Khóa lễ Sáu thời sám hối, do Hòa thượng Tôn sư Trúc Lâm soạn dịch từ nguyên tác Lục thời Sám hối khoa nghi của vua Trần Thái Tông, được Ban Văn hóa Thường Chiếu biên tập trong bộ: Thanh từ toàn tập, tập 25, “Khóa hư lục giảng giải”, Nxb. Tôn giáo, Tp. Hồ Chí Minh, 2013, tr. 243-282. Trong đó, đã lược bỏ bài “Kệ khuyến chúng vào đầu đêm” và bài “Kệ khuyến chúng của Hoàng đế Thái Tông”; cùng với đó là nội dung nghi thức Sám hối sáu căn, được trích dẫn trong bộ: Thanh từ toàn tập, tập 37, “Thanh quy Thiền phái Trúc Lâm”, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2014, tr. 65-77.

2. Loài sò ốc hộ kinh Kim Cang

螺螄。猶護金剛經。
唐時。所有待制。船至漢江阻風。波濤洶湧滿 船驚怖。急將平昔持誦金剛經一卷。拋棄江中。遂 得風恬浪靜。待制曰。深憶此經。受持年遠鬱鬱不 樂。經涉兩月方到鎮江。見船尾後百步。而有一 袍。似裘之狀。出沒無時。眾人疑慮。待制令一漁 人取來。乃螺螄輥成一團。剖而外濕內乾。待制用 手分開視之。即是所持之經毫髮無損。待制驚喜拜 而頂受歎曰。漢水會於九江。至南徐有數千里。舟 船往來豈有數目。然未聞所持之經。自彼至此。螺 螄一見而不捨。其為名耶。利耶。財耶色耶。將必 脫輪迴。免死生者也。嗚呼。萬物之中。最靈者人 也。有畢竟不聞是經。有聞而不見見而不信。信而 為名利所繫而後信者不若螺螄也。

Trích nguồn:
《銷釋金剛經科儀會要註解》卷2,( C BET A 2024.R2, X24, no. 467, pp. 664c09-665a23 // R92, pp. 264a13-265a15 // Z 1:92, pp. 132c13-133a15)
[A2] 已【CB】,巳【卍續】 [A3] 已【CB】,巳【卍
續】).

Dịch:

Loài sò ốc còn hộ kinh Kim Cang

Đời nhà Đường, có một vị quan Đãi Chế, trên thuyền đi đến sông Hán gặp lúc gió lớn ngăn trở, ba đào cuồn cuộn, khiến mọi người trên thuyền kinh sợ. Ông vội đem một quyển kinh Kim Cang đã tụng đọc trước đó, ném vào giữa sông, liền đó gió yên sóng lặng. Quan Đãi Chế nói:

“Tôi nhớ rõ kinh này, nhờ thời gian thọ trì kinh này nên tránh xa được sự buồn rầu không vui”.

Trải qua hai tháng mới đến Trấn Giang, mọi người trông thấy cách đuôi thuyền khoảng 100 bước, có một chiếc áo dài tợ dường bằng lông thú, lúc ẩn lúc hiện. Mọi người nghi ngờ, quan Đãi Chế sai một ngư dân vớt lên. Ra là mấy con sò ốc đã bu quanh thành một khối. Khi mổ ra thì bên ngoài ướt mà trong thì ráo. Vị quan Đãi Chế dùng tay tách ra thấy cuốn Kinh. Chính là quyển kinh Kim Cang mà ông đã trì tụng vẫn còn nguyên vẹn, không bị hư hại. Ông mừng rỡ kinh ngạc lễ bái và đội trên đầu tán thán rằng:

“Hán Thủy chảy qua Cửu Giang, đến Nam Từ cũng hơn ngàn dặm. Thuyền bè qua lại rất nhiều nhưng chưa nghe ai trì kinh. Vậy mà đoạn đường từ sông Hán đến đây, con sò ốc kia vừa gặp quyển kinh liền giữ mãi không buông. Chúng vì danh lợi, tài sắc ư? Chúng chỉ vì mong muốn thoát khỏi luân hồi, sinh tử. Than ôi! Trong muôn loài, người là linh thiêng nhất, nhưng có người cả đời chưa nghe được kinh này, hoặc có nghe mà không thấy không tin, hoặc có tin mà bị danh lợi trói buộc. Xem ra, họ không bằng loài sò ốc kia vậy”.

(Trích Tiêu thích Kim Cang kinh khoa nghi hội yếu chú giải, quyển 2).

3. Mười ngàn con cá nghe danh hiệu Phật hóa làm Thiên tử.

十千游魚。聞佛號。化為天子。
金光明經佛告菩提樹神。昔流水長者。於天自 在光王國內。治眾生病苦[A2]已。長者妻名水肩 藏。有二子。一名水滿。二名水藏。長者與二子。 到一大澤中見枯涸無水。魚將死至。生大悲心。時 有樹神示現半身。語長者。言此魚可憐汝可與水。 長者曰。魚有幾何。答言。此魚十千。日曝水少將 入死門。長者遶池經行。魚隨視長者尋取樹枝覆於 池上用作陰涼。四面覓水忽見一河。名曰水生。長 者悲喜至大王所。具拜告王說如上事。王令自選有

力大象二十頭。於其城中復借皮囊。至河䭾水速到 池邊瀉水而滿。選一力大之象令子白於祖父家中所 用之食。悉[A3]已運至池邊。安置池內。長者依教 所說。高聲稱念。南無寶髻如來應供等十號。及唱 十二因緣。以此之故。十千游魚聞法得食。化生忉 利皆為天子。各悟前因悉來酬謝。十千天子各持瓔 珞至於長者之家以十千天妙瓔珞置於頭邊。十千瓔 珞安於足邊。左脇右脇亦然。又雨四華。作天音 樂。早旦王問羣臣昨夜何故有如此瑞。羣臣對曰。 說如上因。詔令長者問如上緣。長者奏王。恐十千 魚而得生天。待臣至池驗魚死活復來奏王。遂到池 邊見魚悉死。多有四華徧滿池中。還白大王。是十 千游魚。定生忉利天。王聞歡喜。長者欣然。佛告 大眾。此長者。我身也。長子。即羅睺羅。次子即 阿難。樹神。即今善女天也。十千游魚。即今十千 天子是也。

Trích nguồn:《銷釋金剛經科儀會要註解》卷2,( C BET A 2024.R2, X24, no. 467, pp. 664c09-665a23 // R92, pp. 264a13-265a15 // Z 1:92, pp. 132c13-133a15)[A2] 已【CB】,巳【卍續】 [A3] 已【CB】,巳【卍續】).

Dịch:

Mười ngàn con cá nghe danh hiệu Phật hóa làm Thiên tử.

Trong kinh Kim Quang Minh, đức Phật bảo thọ thần Bồ-đề rằng:

Xưa kia, có trưởng giả tên Lưu Thủy ở trong cõi nước Thiên Tự Tại Quang Vương, trị bệnh khổ cho chúng sinh. Vợ của trưởng giả tên là Thủy Kiên Tạng, có hai người con trai, một người tên là Thủy Mãn, người kia tên là Thủy Tạng. Trưởng giả cùng với hai người con đi đến một cái đầm lớn, thấy nước đã cạn, cá sắp chết hết, bèn khởi lòng đại bi. Khi ấy, có thọ thần thị hiện nửa thân, nói với trưởng giả:

- Loài cá này thật đáng thương, ông hãy cho chúng ít nước”.

Trưởng giả đáp:

- Có bao nhiêu con cá? Đáp:

- Cá này có mười ngàn con. Trời nắng nóng, nước khô cạn, chúng sẽ đi đến chỗ chết.

Trưởng giả kinh hành quanh ao, cá nhìn theo ông. Trưởng giả tìm lấy một nhành cây, phủ lên mặt ao để che mát. Ông nhìn tứ phía để tìm nước, chợt thấy có một con sông, tên là Thủy Sinh. Trưởng giả vừa thương xót vừa vui mừng, đi đến chỗ nhà vua, lễ lạy trình lên vua sự việc trên. Vua cho ông tự chọn ra 20 con voi lớn khỏe, lại mượn thêm túi da ở trong thành ấy, đến sông múc nước rồi vội trở về bên bờ ao đổ nước để làm đầy. Ông chọn ra một con voi to khỏe, sai con trai về thưa với ông nội để chở thức ăn ở nhà đến đây. Sắp xếp xong, chở đến và cho vào bên trong ao. Trưởng giả y theo lời dạy trong kinh giáo, lớn tiếng niệm Nam mô Bảo Kế Như Lai Ứng Cúng cùng với 10 hiệu của Như Lai, và xướng tiếp 12 nhân duyên. Nhờ duyên này, mười ngàn con cá được ăn no lại được nghe pháp nên sau khi chết sinh về cõi trời Đao Lợi, đều trở thành Thiên tử. Mỗi vị đều biết được nhân đời trước nên cùng tìm đến để báo ơn. Mười ngàn vị Thiên tử, mỗi người cầm chuỗi anh lạc đến nhà trưởng giả; dùng mười ngàn chuỗi anh lạc vi diệu của cõi trời đặt lên đầu của ông, thêm mười ngàn chuỗi anh lạc ở dưới chân, hai bên hông cũng như thế. Lại làm mưa hoa bốn loại và trỗi nhạc trời.

Sáng sớm hôm sau, vua hỏi quần thần:

- Đêm qua vì sao có điềm lành như thế?

Quần thần trình bày mọi việc như trên. Vua cho gặp trưởng giả hỏi về nhân duyên trước đó. Trưởng giả thưa:

- Có lẽ mười ngàn con cá đã được sinh về cõi trời. Đợi thần đến ao kiểm xem cá còn sống hay chết rồi về báo lại cho người.

Ông đến bên ao thấy cá đều chết hết. Có rất nhiều hoa (gồm bốn loại hoa) đầy khắp trong ao. Trở về thưa với nhà vua:

- Mười ngàn con cá này quyết định đã sinh về cõi trời Đao Lợi.

Vua nghe xong hoan hỷ, trưởng giả cũng vui mừng.

Phật bảo đại chúng:

- “Vị trưởng giả này chính là thân ta, đứa con lớn là La-hầu-la, đứa con kế là A-nan, thọ thần nay là Thiện Nữ Thiên, mười ngàn con cá nay là mười ngàn Thiên tử”.

(Trích Tiêu thích Kim Cang kinh khoa nghi hội yếu chú giải, quyển 2).

4. Năm trăm con dơi nghe pháp đều thành bậc thánh hiền

五百蝙蝠聽法音總作聖賢。
昔佛正法之時有五百蝙蝠穴於枯樹。時有商人 附火。樹下常有道人誦阿毗達磨論故。走火燒其 樹。五百蝙蝠貪聽法音。被火焚斃。次夕見五百人 來禮拜曰。向蒙法力今脫惡報。皆生人中悉皆聰 慧。棄家學道俱登聖果。其後。迦尼色迦與脇尊 者。招集五百賢聖。於迦濕彌羅國。作毗婆論。其 五百賢聖。即五百蝙蝠。因識宿命。遂共作論。以 酬法力之恩也。

Trích nguồn:
《銷釋金剛經科儀會要註解》卷2,( C BET A 2024.R2, X24, no. 467, p. 665a24-b8 // R92, p.265a16-6 // Z 1:92, p. 133a16-6).

Dịch:

Xưa kia, thời kỳ chánh pháp, có 500 con dơi ở trong một hốc cây khô. Khi ấy, có người thương buôn đốt lửa sưởi ấm. Dưới cây thường có vị đạo nhân tụng bộ luận A-tỳ-đạt-ma. Lửa cháy mạnh đốt cả cây khô kia, 500 con dơi vì mải mê nghe pháp nên bị lửa thiêu chết. Đến chiều tối hôm sau, có 500 người đến lễ bái thưa:

“Nhờ ơn pháp lực của ngài mà nay được thoát khỏi quả báo ác, đều sinh về cõi người, được thông minh trí tuệ, bỏ nhà học đạo, đều chứng quả thánh.

Sau đó, ngài Ca-nị-sắc-ca cùng với Hiếp tôn giả triệu tập 500 vị thánh hiền tại nước Ca-thấp-di-la tạo luận Bà-sa. 500 vị thánh hiền đó chính là 500 con dơi, nhờ biết được việc xưa nên cùng trước tác luận này để báo đáp sự mầu nhiệm của Phật pháp”.

(Trích Tiêu thích Kim Cang kinh khoa nghi hội yếu chú giải, quyển 2).

Nguồn Tạp chí Phật học: https://tapchinghiencuuphathoc.vn/khoa-hu-luc-trong-mach-thien-truc-lam-het.html