Khơi dậy khát vọng phát triển từ những nghị quyết mang tầm chiến lược
Sau mỗi kỳ đại hội Đảng, điều cán bộ, đảng viên và Nhân dân quan tâm nhất không chỉ là những mục tiêu lớn được xác lập, mà chính là khả năng biến tinh thần nghị quyết thành hành động cụ thể, thành những chuyển động rõ nét trong thực tiễn đời sống. Bởi nghị quyết chỉ thực sự có sức sống khi đi vào cuộc sống, trở thành động lực phát triển, thành niềm tin và kỳ vọng của Nhân dân.
Trong dòng chảy đó, việc Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang ban hành đồng bộ 12 nghị quyết chuyên đề để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 không chỉ thể hiện tinh thần chủ động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo mà còn cho thấy một tư duy phát triển mới: Phát triển nhanh nhưng phải bền vững; phát triển toàn diện nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm; phát triển kinh tế song hành với phát triển con người, văn hóa và bảo đảm an sinh xã hội. Tất cả tạo thành một chỉnh thể thống nhất, phản ánh rõ khát vọng đưa Tuyên Quang bước vào giai đoạn phát triển mới với tâm thế mới.
Có thể nói, chưa bao giờ quyết tâm bứt phá của tỉnh lại được thể hiện rõ nét như trong các nghị quyết lần này. Nổi bật trước hết là Nghị quyết số 81-NQ/TU về thu hút đầu tư giai đoạn 2026 - 2030. Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương ngày càng gay gắt, việc tỉnh đặt mục tiêu thu hút khoảng 150 dự án mới với tổng vốn đăng ký từ 70.000 - 75.000 tỷ đồng; vốn FDI đạt khoảng 15.000 - 20.000 tỷ đồng; thu hút ít nhất 3 doanh nghiệp thuộc Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam đầu tư tại tỉnh cho thấy một tư duy phát triển rất rõ nét: Tuyên Quang không còn chỉ hướng tới “có dự án” mà hướng tới “dự án chất lượng cao”, có khả năng tạo sức bật cho nền kinh tế.
Mục tiêu ấy phản ánh sự tự tin mới của tỉnh sau nhiều năm cải thiện môi trường đầu tư, phát triển hạ tầng và nâng cao năng lực điều hành. Đồng thời, đó cũng là thông điệp mạnh mẽ khẳng định quyết tâm chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu; từ phát triển dựa vào khai thác tài nguyên sang phát triển dựa vào công nghiệp chế biến, công nghệ và giá trị gia tăng.
Đi liền với thu hút đầu tư là Nghị quyết số 86-NQ/TU về phát triển công nghiệp giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nếu trước đây công nghiệp của tỉnh còn phân tán, quy mô nhỏ, giá trị chế biến chưa cao thì nay nghị quyết đã xác định rất rõ: công nghiệp phải trở thành trụ cột quan trọng của nền kinh tế tỉnh.
Điều đáng chú ý là nghị quyết không chạy theo tăng trưởng đơn thuần mà hướng đến phát triển công nghiệp xanh, sạch, hiện đại và bền vững. Chỉ tiêu tăng tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu bình quân 10%/năm; 100% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung; tầm nhìn đến năm 2050 hình thành nền công nghiệp với nhiều sản phẩm xanh, hữu cơ cho thấy tỉnh đã đặt yếu tố môi trường và phát triển bền vững vào vị trí trung tâm.
Đặc biệt, vấn đề nguồn nhân lực được nhìn nhận rất thẳng thắn. Khi nghị quyết đặt mục tiêu tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt hơn 72%, điều đó đồng nghĩa tỉnh đang trực diện giải quyết “điểm nghẽn” lớn nhất của phát triển công nghiệp hiện nay là chất lượng lao động. Một nền công nghiệp hiện đại không thể dựa vào lao động giản đơn, càng không thể phát triển dài hạn nếu thiếu nhân lực kỹ thuật cao. Vì vậy, đây không chỉ là mục tiêu kinh tế mà còn là chiến lược phát triển con người và nâng cao chất lượng dân số lao động.
Nếu công nghiệp là động lực tăng trưởng thì hạ tầng chính là “mạch máu” của nền kinh tế. Nghị quyết số 91-NQ/TU về tiếp tục đột phá phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đến năm 2030 vì thế mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Từ mục tiêu hoàn thành cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang đến cửa khẩu Thanh Thủy; nhựa hóa, bê-tông hóa 85% đường xã và 75% đường thôn; xây dựng thêm các khu, cụm công nghiệp; phủ sóng 5G tới 100% trung tâm xã… có thể thấy tư duy hạ tầng của tỉnh đã vượt ra khỏi giới hạn giao thông truyền thống để hướng tới hạ tầng đồng bộ, hiện đại, bao gồm cả hạ tầng số, hạ tầng đô thị và hạ tầng xã hội.
Trong thời đại chuyển đổi số và kinh tế số, việc xác định hạ tầng công nghệ là một trụ cột phát triển thể hiện tầm nhìn rất kịp thời. Hạ tầng số không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn mở ra cơ hội lớn cho giáo dục, y tế, thương mại điện tử, du lịch thông minh và thu hút đầu tư công nghệ cao.
Đặc biệt, nghị quyết dành sự quan tâm lớn tới lĩnh vực an sinh xã hội. Việc phấn đấu hoàn thành ít nhất 3.000 căn nhà ở xã hội; xây dựng 17 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới; kiên cố hóa 100% phòng học; đưa vào vận hành Bệnh viện Đa khoa tỉnh quy mô 1.000 giường… cho thấy quan điểm phát triển rất rõ ràng: tăng trưởng kinh tế phải gắn với nâng cao chất lượng sống của người dân. Đó cũng là giá trị cốt lõi, mục tiêu quan trọng của tỉnh hướng đến, đó là tất cả người dân đều được hưởng thành quả của phát triển.
Một điểm nổi bật khác trong hệ thống nghị quyết lần này là sự quan tâm sâu sắc tới yếu tố văn hóa và con người. Nghị quyết số 89-NQ/TU về xây dựng nếp sống văn minh trong nhân dân các dân tộc tỉnh và Nghị quyết số 84-NQ/TU về xây dựng, phát triển con người Tuyên Quang toàn diện cho thấy tỉnh không chỉ tập trung cho tăng trưởng kinh tế mà còn đặc biệt coi trọng nền tảng tinh thần của xã hội.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, sự phát triển nếu thiếu nền tảng văn hóa sẽ dễ dẫn đến những hệ lụy về đạo đức xã hội, lối sống và bản sắc dân tộc. Vì vậy, xây dựng nếp sống văn minh không phải chuyện nhỏ, càng không phải phong trào hình thức, mà là nhiệm vụ lâu dài nhằm hình thành môi trường xã hội lành mạnh, kỷ cương, nhân văn và tiến bộ.
Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Khi tỉnh đặt vấn đề xây dựng con người Tuyên Quang toàn diện, điều đó cho thấy tầm nhìn phát triển đã đi vào chiều sâu, hướng tới bồi đắp trí tuệ, nhân cách, ý thức công dân, khát vọng vươn lên và tinh thần trách nhiệm xã hội trong mỗi người dân.
Song hành với phát triển công nghiệp, tỉnh cũng rất chú trọng phát triển kinh tế xanh, kinh tế sinh thái thông qua Nghị quyết số 90-NQ/TU về phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với bảo đảm an sinh xã hội. Với một địa phương có diện tích rừng lớn như Tuyên Quang, đây là hướng đi vừa phù hợp thực tiễn vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Lâm nghiệp ngày nay không chỉ là trồng rừng lấy gỗ mà còn gắn với bảo vệ môi trường, phát triển tín chỉ carbon, du lịch sinh thái và sinh kế bền vững cho người dân miền núi. Phát triển lâm nghiệp bền vững cũng chính là góp phần bảo vệ “lá phổi xanh”, bảo đảm an ninh sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đáng chú ý, trong chiến lược phát triển mới, du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn thông qua Nghị quyết số 92-NQ/TU. Đây là lựa chọn hoàn toàn có cơ sở bởi Tuyên Quang sở hữu nhiều tiềm năng nổi trội về lịch sử, văn hóa, sinh thái và cảnh quan thiên nhiên.
Từ Tân Trào đến biên cương cực Bắc, hệ thống lễ hội, văn hóa các dân tộc, tỉnh có đủ điều kiện để phát triển du lịch lịch sử, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng. Điều quan trọng là nghị quyết đã mở ra tư duy phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, gắn với bảo tồn văn hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Một địa phương muốn phát triển nhanh không thể đứng ngoài dòng chảy hội nhập. Vì vậy, Nghị quyết số 83-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế giai đoạn 2026 - 2030 mang ý nghĩa rất thiết thực. Hội nhập không chỉ để thu hút đầu tư mà còn để tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới, thị trường mới và nâng cao vị thế của địa phương.
Có thể nói, hệ thống nghị quyết lần này đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất, liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực, từ kinh tế đến văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Điều đó cho thấy tư duy lãnh đạo của tỉnh ngày càng toàn diện, khoa học và hiện đại hơn.
Tuy nhiên, nghị quyết dù đúng và trúng đến đâu cũng chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi vào cuộc sống. Điều người dân kỳ vọng không chỉ là những mục tiêu lớn mà là sự chuyển động thực chất trong hành động của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ, đảng viên. Muốn vậy, phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thực tiễn luôn đặt ra nhiều khó khăn, thách thức: nguồn lực đầu tư còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều, áp lực cạnh tranh ngày càng lớn… Nhưng truyền thống đoàn kết, tinh thần đổi mới và khát vọng phát triển, cùng hệ thống nghị quyết đồng bộ, bài bản và giàu tính hành động, Tuyên Quang đang cho thấy quyết tâm mạnh mẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Những nghị quyết hôm nay không chỉ là văn bản lãnh đạo mà còn là cam kết chính trị trước Nhân dân; là lời hiệu triệu khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân, khi khát vọng phát triển được chuyển hóa thành hành động cụ thể, Tuyên Quang hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng vào một tương lai phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và giàu bản sắc hơn trong chặng đường phía trước.











