Cần có nghị quyết của Quốc hội về cơ chế thí điểm tạo thị trường cho doanh nghiệp cơ khí
Tại Hội thảo 'Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới' do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với các cơ quan tổ chức, các đại biểu nhấn mạnh, việc ban hành nghị quyết của Quốc hội về cơ chế thí điểm tạo thị trường cho doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong các dự án trọng điểm, ưu tiên là yêu cầu cấp thiết.
Cần có cách tiếp cận mới
Đánh giá thực trạng, các đại biểu có chung nhận định, mặc dù đã đạt được nhiều kết quả quan trọng nhưng nhìn tổng thể, công nghiệp vật liệu và cơ khí, chế tạo Việt Nam chưa thực sự trở thành công nghiệp nền tảng của nền kinh tế.
Ngành công nghiệp vật liệu vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, phụ thuộc phần lớn vào nguyên liệu đầu vào chất lượng cao nhập khẩu từ nước ngoài; hạn chế về năng lực chế biến sâu; chưa làm chủ chuỗi giá trị đối với: vật liệu bán dẫn, vật liệu điện tử, hóa chất điện tử siêu tinh khiết, vật liệu pin thế hệ mới, vật liệu lượng tử, vật liệu cho robot và AI, vật liệu cho điện hạt nhân, vật liệu hàng không vũ trụ, nhiều loại hợp kim đặc chủng.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên phát biểu chỉ đạo tại hội thảo. Ảnh: Hồ Long
Đối với ngành cơ khí, chế tạo, phần lớn doanh nghiệp cơ khí hiện nay vẫn hoạt động ở khâu gia công, chế tạo đơn giản hoặc lắp ráp. Năng lực về thiết kế tổng thể; thiết kế chi tiết; thiết kế hệ thống; chế tạo thiết bị công nghệ cao; làm chủ công nghệ lõi... vẫn còn hạn chế.
Từ thực tế đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh, cần có cách tiếp cận mới về công nghiệp vật liệu, công nghiệp cơ khí, chế tạo, xem đây là các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp gốc của nền kinh tế.
Các đại biểu cũng nêu rõ, theo định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, phát triển công nghiệp vật liệu trong giai đoạn tới cần được tổ chức theo ba nhóm lớn gồm: nhóm vật liệu cơ bản; nhóm vật liệu chiến lược; nhóm vật liệu tương lai.

Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Hồ Long
Trong đó, nhóm vật liệu cơ bản phải được duy trì và nâng cấp về công nghệ, chất lượng và năng lực cạnh tranh. Nhóm vật liệu chiến lược cần được tập trung nguồn lực để tạo đột phá, phục vụ trực tiếp các ngành công nghệ chiến lược, các dự án trọng điểm quốc gia và yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhóm vật liệu tương lai cần được ưu tiên nghiên cứu, chuẩn bị từ sớm nhằm tạo nền tảng cho phát triển dài hạn của đất nước trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và xu hướng công nghệ mới trên thế giới.
Trên cơ sở yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường nhận thấy, cần ưu tiên phát triển các vật liệu như: vật liệu bán dẫn và điện tử; vật liệu áp điện; vật liệu năng lượng mới; vật liệu phục vụ điện hạt nhân; vật liệu phục vụ đường sắt tốc độ cao; vật liệu phục vụ quốc phòng.
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cũng cho rằng, cần nghiên cứu xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược này cần xây dựng lộ trình phát triển đồng bộ đối với ba nhóm vật liệu; đồng thời, gắn phát triển vật liệu với quản lý hiệu quả tài nguyên khoáng sản, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Hình thành hệ sinh thái công nghiệp mới
Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, PGS. TS. Nguyễn Chỉ Sáng nhận định, Việt Nam đang bước vào giai đoạn triển khai hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghiệp chế biến - chế tạo với tổng nhu cầu đầu tư đến năm 2045 ước tính lên tới 1.000 tỷ USD.
Trong số đó, đường sắt tốc độ cao được xem là một trong những dự án có sức lan tỏa lớn nhất đối với công nghiệp vật liệu và cơ khí, chế tạo. Dự án còn tạo ra nhu cầu rất lớn đối với thép chất lượng cao, kết cấu thép đặc chủng, đầu máy, toa xe, hệ thống tín hiệu, thiết bị điện khí hóa, hệ thống điều khiển tự động và hàng loạt sản phẩm cơ khí công nghệ cao khác.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) Nguyễn Chỉ Sáng phát biểu. Ảnh: Hồ Long
PGS. TS. Nguyễn Chỉ Sáng nhấn mạnh, phát triển công nghiệp vật liệu và cơ khí trong nước phải được xem là điều kiện tiên quyết để làm chủ các dự án hạ tầng chiến lược.
Phát triển công nghiệp cơ khí và vật liệu không chỉ giúp giảm giá thành đầu tư mà còn tạo nền tảng để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, phát triển doanh nghiệp công nghiệp đầu tàu và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nếu tận dụng tốt cơ hội từ các dự án đường sắt, doanh nghiệp Việt Nam có thể phát triển năng lực trong nhiều lĩnh vực từ sản xuất thép chất lượng cao, chế tạo kết cấu thép, thiết bị điện, thiết bị điều khiển cho tới các sản phẩm cơ khí chính xác. Đây cũng là cơ sở để hình thành hệ sinh thái công nghiệp mới thay vì chỉ dừng ở vai trò nhà thầu phụ hoặc đơn vị gia công đơn giản.
Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam kiến nghị, cần ban hành cơ chế tạo thị trường cho doanh nghiệp Việt Nam trong các dự án đầu tư công và dự án chiến lược. Đây là điểm then chốt. Nếu đấu thầu chỉ lựa chọn theo giá thấp, không tính tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ, chi phí vòng đời, năng lực bảo trì và khả năng hình thành chuỗi cung ứng trong nước, không những doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó có cơ hội trưởng thành mà chúng ta còn phải trả giá đắt cho những sản phẩm và dịch vụ cần nhập khẩu.
Cũng theo Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, cần quy định trong hồ sơ mời thầu các dự án đường sắt, năng lượng, khai khoáng, quốc phòng và hạ tầng kỹ thuật yêu cầu bắt buộc về kế hoạch nội địa hóa, sử dụng nhà cung ứng trong nước, đào tạo nhân lực, chuyển giao thiết kế, mở dữ liệu kỹ thuật và cam kết bảo trì dài hạn.
Đột phá vào các lĩnh vực có thị trường lớn, tác động lan tỏa cao
Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí, Bộ Công Thương Phan Đăng Phong cũng cho rằng, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế thí điểm tạo thị trường cho doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong các dự án trọng điểm, ưu tiên thuộc các lĩnh vực đường sắt, điện gió ngoài khơi, khai thác bauxite, chế biến alumin, điện phân nhôm có dung lượng thị trường lớn là yêu cầu cấp thiết.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí Phan Đăng Phong phát biểu. Ảnh: Hồ Long
Theo đó, cơ chế, chính sách đột phá cần tập trung vào các lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn, tác động lan tỏa cao và có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam tiến tới tự chủ các khâu thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và chế tạo thiết bị.
Nghị quyết cần quy định các chính sách cụ thể nhằm khuyến khích phát triển sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026 - 2045, gồm: ưu đãi vượt trội về tài chính, hỗ trợ R&D, thử nghiệm, chứng nhận, phát triển nhân lực chất lượng cao và thiết lập hàng rào kỹ thuật hợp pháp để bảo vệ thị trường nội địa phù hợp với cam kết quốc tế…
Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam kiến nghị, cần hoàn thiện chính sách về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ theo hướng hỗ trợ “mua năng lực”, không chỉ hỗ trợ “mua thiết bị”. Theo đó, Nhà nước cần có chương trình cấp quốc gia cho từng nhóm sản phẩm như robot công nghiệp, máy công cụ chính xác, thiết bị điện công suất lớn, thiết bị đường sắt, thiết bị điện gió ngoài khơi. Mỗi chương trình phải có sản phẩm đầu ra cụ thể: bộ hồ sơ thiết kế, mẫu thử nghiệm, tiêu chuẩn kỹ thuật, phần mềm điều khiển, quy trình chế tạo, kết quả kiểm định, tỷ lệ nội địa hóa và danh sách doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng.
Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cũng đề nghị phát triển doanh nghiệp vật liệu, cơ khí nòng cốt theo cơ chế lựa chọn có điều kiện, giao nhiệm vụ có kiểm soát và đánh giá định kỳ, tránh hỗ trợ dàn trải cho mọi doanh nghiệp. Theo đó, cần lựa chọn 15 - 20 doanh nghiệp nòng cốt đến năm 2045 trong các lĩnh vực đường sắt, năng lượng, khai khoáng, đóng tàu, robot - tự động hóa, thiết bị điện, vật liệu và cơ khí chính xác. Các doanh nghiệp này cần phải có năng lực tài chính, quản trị, R&D, engineering, năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng nội địa và cam kết tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước.











