Khơi thông đầu tư công để tiếp sức tăng trưởng kinh tế

GDP 6 tháng đầu năm 2026 đạt mức tăng cao nhất trong nhiều năm, song nhiều chuyên gia nhận định nền kinh tế vẫn đối mặt hàng loạt điểm nghẽn, từ giải ngân đầu tư công, sức chống chịu của doanh nghiệp tư nhân đến rủi ro thanh khoản của hệ thống tài chính. Những vấn đề này được xem là chìa khóa quyết định triển vọng tăng trưởng của nửa cuối năm.

Để nhận diện các thách thức, động lực tăng trưởng và triển vọng phát triển nhằm đề xuất giải pháp chính sách phù hợp cho thời gian tới, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học: “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển”. Tại đây, các chuyên gia kinh tế, đại diện cơ quan quản lý và các hiệp hội ngành nghề đã tập trung phân tích thực trạng vĩ mô, trong đó nhấn mạnh việc đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công chính là chìa khóa để khơi thông nguồn lực hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Toàn cảnh cuộc Hội thảo khoa học: “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển” vừa diễn ra ngỳ 9.7.

Toàn cảnh cuộc Hội thảo khoa học: “Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thách thức, động lực và triển vọng phát triển” vừa diễn ra ngỳ 9.7.

Chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế không nằm ở những con số

Phát biểu mở đầu hội thảo, TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, nhấn mạnh bối cảnh quốc tế tiếp tục tạo sức ép không nhỏ đối với các nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam. Dù vậy, nền kinh tế nước ta vẫn duy trì được đà phục hồi tích cực khi tăng trưởng GDP sáu tháng đầu năm đạt 8,18%, mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Tuy nhiên, ông Thanh cũng lưu ý phía sau các chỉ số khả quan vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được phân tích một cách khách quan, toàn diện và khoa học. Áp lực lạm phát, biến động tỷ giá, xu hướng nhập siêu quay trở lại, sức khỏe của khu vực doanh nghiệp, chất lượng tín dụng, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế cũng như các cân đối lớn trong phát triển... vẫn là những vấn đề đặt ra đối với công tác điều hành vĩ mô trong thời gian tới.

Theo đó, mục tiêu của Hội thảo không chỉ dừng lại ở việc tổng kết bức tranh kinh tế sáu tháng đầu năm mà còn làm rõ bản chất của các vấn đề kinh tế đang đặt ra, nhận diện chính xác các điểm nghẽn, đánh giá đúng các động lực tăng trưởng và dự báo kịp thời những rủi ro có thể phát sinh trong giai đoạn phát triển mới.

Trong bối cảnh đầu tư của khu vực tư nhân có xu hướng chững lại do tâm lý thận trọng, đầu tư công được xác định là công cụ điều tiết vĩ mô then chốt nhằm kích cầu tổng thể nền kinh tế. Việc tập trung nguồn lực chi công vào các công trình hạ tầng giao thông trọng điểm như hệ thống đường cao tốc liên vùng, trục logistics kết nối đô thị và các bước chuẩn bị kỹ thuật cho dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ giải quyết yêu cầu ngắn hạn về giải ngân ngân sách, mà còn tạo nền tảng hạ tầng lâu dài.

TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo.

TS. Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu khai mạc hội thảo.

Báo cáo đề dẫn về cơ cấu tổng cầu, TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cho rằng việc hỗ trợ khối doanh nghiệp tư nhân lúc này cần những biện pháp căn cơ, giảm bớt gánh nặng chi phí hành chính và tạo thị trường đầu ra thông qua chi tiêu chính phủ. Khi dòng vốn tư nhân chưa sẵn sàng mở rộng đầu tư, các dự án đầu tư công quy mô lớn sẽ đóng vai trò dẫn dắt, tạo việc làm và giải phóng các tiềm năng kinh tế đất đai.

“Mặc dù các chỉ số tăng trưởng sáu tháng đầu năm đạt mục tiêu đề ra, nhưng nội lực sản xuất của khu vực tư nhân trong nước vẫn tương đối yếu. Chính sách vĩ mô trong giai đoạn tới cần tập trung vào các giải pháp hỗ trợ thực chất để bồi đắp sức bền cho doanh nghiệp”, vị chuyên gia nhận định.

Dù có vai trò quan trọng, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công trong nửa đầu năm vẫn chưa đạt kỳ vọng do vướng mắc kéo dài ở một số khâu then chốt. Điển hình là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại các địa phương còn chậm, giá nguyên vật liệu xây dựng biến động phức tạp và quy trình phê duyệt hồ sơ kỹ thuật qua nhiều tầng nấc hành chính. Những hạn chế này làm chậm tiến độ thi công của các công trình, đồng thời làm giảm hiệu quả lan tỏa của dòng vốn nhà nước đối với nền kinh tế.

TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, báo cáo đề dẫn.

TS. Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, báo cáo đề dẫn.

Bài toán khơi thông nguồn vốn đầu tư công

PGS-TS. Vũ Sỹ Cường, Giảng viên cao cấp Học viện Tài chính, thẳng thắn đưa ra góc nhìn trực diện vào một trong những động lực then chốt của tăng trưởng vĩ mô nhưng lại đang gặp ách tắc lớn: dòng vốn đầu tư công.

Đánh giá từ tình hình thực tiễn cho thấy sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu đầu tư khi dòng vốn từ khu vực tư nhân tăng mạnh, trở thành trụ đỡ quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng chung trong bối cảnh các nguồn lực khác gặp khó. Đi cùng với đó, các chỉ số về bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tiếp tục đà phục hồi tốt. Đặc biệt, chỉ số quản trị mua hàng (PMI) tháng 6.2026 đạt 51,8 điểm, đánh dấu tháng thứ 12 liên tiếp nằm trên ngưỡng 50, khẳng định chu kỳ mở rộng ổn định của sản xuất công nghiệp.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất bộc lộ rõ trong quý II.2026 chính là sự ngưng trệ của dòng vốn đầu tư công, với tỷ trọng giải ngân thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2025. Đi sâu phân tích nguyên nhân cốt lõi, vị chuyên gia chỉ ra đây là hệ lụy tạm thời từ quá trình sáp nhập, tái cấu trúc các đơn vị hành chính địa phương. Quá trình vận hành bộ máy chính quyền mới sau sáp nhập đã làm gián đoạn nghiêm trọng khâu phê duyệt, giao vốn và thực thi chi tiết các dự án tại địa phương.

Cơ cấu đầu tư xã hội cho thấy tỷ trọng giải ngân vốn đầu tư công trong hai quý đầu năm 2026 thấp hơn đáng kể so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh: TL

"Cần sớm có cơ chế đặc thù, chỉ đạo quyết liệt từ Trung ương để tháo gỡ điểm nghẽn thủ tục trong quá trình chuyển giao hành chính tại các địa phương sáp nhập. Chúng ta cần dồn lực đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công vào quý III và quý IV.2026, nhằm biến đây trở thành động lực thực sự để bù đắp cho sự thiếu hụt của nửa đầu năm”, ông Cường kiến nghị giải pháp.

Áp lực nhập siêu và sức chống chịu của doanh nghiệp

TS. Phạm Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, cho biết quy mô thương mại tiếp tục bứt phá mạnh mẽ với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 27,1% so với cùng kỳ. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là bệ đỡ vững chắc khi chiếm tới 90% tổng kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam ghi nhận 29 nhóm mặt hàng đạt quy mô xuất khẩu trên 1 tỷ USD (chiếm 92,1% tổng kim ngạch).

Về cơ cấu nhập khẩu, 94,1% là tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu), cho thấy tín hiệu tích cực về việc doanh nghiệp đang tích cực mở rộng sản xuất để đáp ứng đơn hàng tương lai.

Tuy nhiên, áp lực khổng lồ xuất hiện khi mức thâm hụt thương mại (nhập siêu) đã lên đến con số 16,65 tỷ USD chỉ trong 6 tháng. Để hoàn thành mục tiêu duy trì thặng dư trung bình 24 tỷ USD/năm (như giai đoạn 2023 - 2025), nền kinh tế phải đối mặt với áp lực tạo ra thặng dư hơn 40 tỷ USD trong 6 tháng cuối năm.

Bên cạnh đó, sự phụ thuộc quá lớn vào khối FDI vẫn là một lỗ hổng cơ cấu, khi tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khối FDI đạt trung bình 16,4%/năm, bỏ xa mức 11,4%/năm của khối nội địa.

Ảnh: TL.

Ảnh: TL.

Đánh giá về vấn đề này, TS. Phạm Anh Tuấn thẳng thắn nhìn nhận: “Các vấn đề dài hạn ngày càng trầm trọng, trong đó quy mô thương mại ngày càng lớn nhưng giá trị gia tăng cho nền kinh tế không tương xứng, khu vực FDI chi phối hoàn toàn lĩnh vực thương mại, xuất khẩu nhiều hàng hóa công nghệ cao, nhưng năng lực công nghệ nội địa chậm cải thiện”.

Sự mong manh của nội lực kinh tế càng được khắc họa rõ nét qua số liệu khảo sát do ông Phạm Ngọc Thạch, Phó Trưởng Ban Pháp chế VCCI, trình bày. Từ Nghị quyết 68-NQ/TW, niềm tin kinh doanh và tinh thần khởi nghiệp được duy trì tương đối tốt với 169.842 doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại thị trường (tăng 11,2%). Tổng vốn đăng ký mới đạt 1,35 triệu tỷ đồng (tăng 64,8%), đẩy quy mô vốn bình quân mỗi doanh nghiệp lên 12,22 tỷ đồng (so với mức 9 tỷ của năm 2025).

Dù vậy, làn sóng rút lui khỏi thị trường đã đạt con số kỷ lục là 151.067 doanh nghiệp (tăng 18,8%). Việc tốc độ giải thể (18,8%) cao hơn tốc độ “sinh ra” (11,2%) là tín hiệu cảnh báo về sức chống chịu còn yếu của các doanh nghiệp hiện hữu dưới áp lực kép của chi phí đẩy, đứt gãy chuỗi cung ứng và gánh nặng chi phí tuân thủ pháp lý. Có tới gần 86.000 doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động. Đại diện VCCI nhấn mạnh, dư địa cải cách lớn nhất và ít tốn kém nhất hiện nay chính là cải cách thể chế, chuyển dịch triệt để sang tư duy kiến tạo phát triển, cắt giảm mạnh mẽ các rào cản và chi phí tuân thủ không cần thiết.

Rủi ro hệ thống từ “căn bệnh thanh khoản thường trực”

Phát biểu tại hội thảo, TS. Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước, đưa ra một số cảnh báo về thực tế hệ thống tài chính tiền tệ khi phải gồng gánh mục tiêu tăng trưởng cao.

Ở chiều tích cực, hệ thống tín dụng tiếp tục đóng vai trò huyết mạch với dư nợ đạt 19,97 triệu tỷ đồng (tăng 7,41% so với đầu năm và 18,1% so với cùng kỳ). Lạm phát được neo ở mức 4,38%, bám sát mục tiêu 4,5% Quốc hội đề ra, trong khi đồng Việt Nam (VND) giữ được sự ổn định khi chỉ mất giá nhẹ 0,16%. Nhìn chung, hệ thống đã lấy lại được sự vững vàng sau "cú sốc" từ các ngân hàng yếu kém ở giai đoạn trước.

Ảnh: TL

Ảnh: TL

Tuy nhiên, thách thức đặc biệt nghiêm trọng nằm ở sự mất cân đối trầm trọng giữa huy động và cho vay. Trong khi tín dụng tăng mạnh, tổng nguồn vốn huy động toàn hệ thống chỉ tăng khoảng 3% (đạt hơn 17 triệu tỷ đồng). Hậu quả là tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (LDR) vọt lên mức 115%, vượt tới 30% so với ngưỡng an toàn. Sự lệch pha kỳ hạn chạm mức báo động khi việc dùng vốn ngắn hạn để tài trợ cho vay trung và dài hạn đã lên tới 5,9 triệu tỷ đồng.

TS. Phạm Xuân Hòe chỉ rõ: "Đây là mầm mống của “căn bệnh thanh khoản thường trực”. Áp lực này khiến mặt bằng lãi suất huy động tại một số ngân hàng nhỏ đã tăng lên mức 9%/năm cho kỳ hạn 12 tháng (chưa tính các gói khuyến mãi ngầm)”.

Bên cạnh đó, vị chuyên gia cũng lưu ý rủi ro từ các chính sách nới lỏng tạm thời của Ngân hàng Nhà nước (như lùi áp dụng chuẩn mực Basel, nâng trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung/dài hạn lên 40%). Các chính sách này dù giải tỏa cơn khát vốn trước mắt cho các dự án trọng điểm, nhưng lại chứa đựng nguy cơ đảo nợ, che đậy nợ xấu và rủi ro bị các tổ chức quốc tế hạ bậc tín nhiệm.

Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng đưa ra một số đề xuất tái cấu trúc toàn diện hệ thống tài chính: “Theo đó, giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào kênh tín dụng ngân hàng (hiện đang chiếm 50-57% vốn cho tăng trưởng). Đồng thời, khơi thông và phát triển mạnh mẽ kênh thị trường vốn (cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp) để chia sẻ gánh nặng cung cấp vốn trung và dài hạn. Ngân hàng Nhà nước cần giám sát chặt chẽ rủi ro thanh khoản, không nên hy sinh sự an toàn hệ thống vì mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn”.

Về tổng quan, kết quả vĩ mô 6 tháng đầu năm 2026 mang lại những tín hiệu tích cực về mặt tăng trưởng số biểu kiến nhưng lại đặt ra những thách thức cơ cấu rất sâu sắc. Để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững cho cả giai đoạn 2026 - 2030, việc chuyển đổi tư duy quản trị sang kiến tạo, khơi thông dòng vốn đầu tư công tại các địa phương sáp nhập và kiểm soát chặt chẽ an toàn hệ thống tài chính chính là những bước đi không thể trì hoãn.

Bài và ảnh: Ngọc Phạm

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/khoi-thong-dau-tu-cong-de-tiep-suc-tang-truong-kinh-te-53371.html