Khơi thông 'mạch máu' logistics theo tinh thần Nghị quyết số 19
Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đặt logistics vào vị trí hạ tầng chiến lược nhằm bứt phá mô hình phát triển. Phát triển hạ tầng đa phương thức, quản trị dữ liệu và chuyển đổi xanh chính là chìa khóa để khơi thông 'mạch máu' kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia.
Tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam vừa được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành đã đặt logistics vào nhóm hạ tầng chiến lược với một yêu cầu rõ ràng: “phát triển hệ thống logistics hiện đại, đa phương thức, kết nối hiệu quả cảng biển, cửa khẩu, sân bay, đường sắt, đường cao tốc, khu công nghiệp và các hành lang kinh tế”.
Thông điệp ấy đến vào thời điểm thương mại Việt Nam đang bứt tốc, nhưng đi cùng với đó là những thách thức không nhỏ trong việc nâng cao sức cạnh tranh của ngành.
Giữ vị trí chiến lược nhưng dữ liệu chưa đầy đủ
Trong 6 tháng đầu năm 2026, bất chấp biến động thị trường, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt gần 550 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 266,5 tỷ USD, tăng 21%; kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 283,2 tỷ USD, tăng 33,4%. Những kết quả tích cực này phản ánh sức mạnh và năng lực thích ứng của nền sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.

Chi phí logistics của Việt Nam hiện tương đương khoảng 17% GDP, cao hơn đáng kể so với bình quân thế giới (khoảng 10 - 11%).
Tuy nhiên, quy mô thương mại quốc tế ngày càng lớn cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc nâng cao năng lực logistics quốc gia. Phía sau đà tăng trưởng là câu chuyện chi phí dành cho logistics. Chi phí logistics của Việt Nam hiện tương đương khoảng 17% GDP, cao hơn đáng kể so với bình quân thế giới (khoảng 10–11%). Chi phí này giống một khoản “thuế vô hình” cộng vào mọi sản phẩm, khiến hàng Việt đắt hơn ngay từ khâu vận chuyển, làm giảm sức cạnh tranh trong sản xuất và xuất khẩu.
Nghịch lý quy mô thương mại tăng nhưng chi phí logistics cao càng đáng lưu tâm khi thế giới đang tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Làn sóng dịch chuyển dòng hàng và dòng vốn khỏi một vài trung tâm sản xuất lớn mở ra cơ hội để Việt Nam vươn lên thành mắt xích quan trọng hơn. Nhưng cơ hội đó chỉ thành hiện thực nếu chi phí và năng lực logistics đủ cạnh tranh, Ngược lại, dòng hàng sẽ chọn những quốc gia có hạ tầng thông suốt và chi phí thấp hơn.
Tại Triển lãm Quốc tế Logistics Việt Nam lần thứ tư – VILOG 2026 ngày 30/7/2026 với chủ đề “Shaping Smart & Sustainable”, quy tụ 450 doanh nghiệp từ 22 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng hơn 550 gian hàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) Đào Trọng Khoa nêu một nhận định đáng chú ý: “Trước đây năng lực cạnh tranh của logistics được đo bằng tốc độ và chi phí, thì hôm nay năng lực cạnh tranh được quyết định bởi công nghệ, dữ liệu và phát triển bền vững”. Theo ông, với độ mở kinh tế cao và vị trí kết nối của khu vực ASEAN cùng các tuyến hàng hải quốc tế, Việt Nam có nhiều điều kiện để trở thành một trung tâm logistics và chuỗi cung ứng có năng lực cạnh tranh trong khu vực.
Trong phát biểu của ông Đào Trọng Khoa có một từ khóa đáng chú ý đó là "dữ liệu".
Muốn giảm chi phí, trước hết phải có số liệu, dữ liệu để điều chỉnh chính sách phù hợp. Nhưng nhiều ngành hàng xuất khẩu lâu nay phản ánh chi phí logistics cao, song thiếu số liệu chính thức để xác định “cao đến đâu” và cao ở khâu nào, so sánh cao, thấp giữa các ngành ra sao.
Đầu tháng 7/2026, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) đã làm việc với Cục Thống kê (Bộ Tài chính) để phối hợp triển khai thống kê các chỉ tiêu, chỉ số về dịch vụ logistics. Thực tế cho thấy dù Thông tư số 12/2021 đã quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê logistics, sau gần 5 năm cơ quan quản lý vẫn chưa tiếp cận được số liệu theo hệ thống này; lĩnh vực logistics vẫn chưa có một hệ thống dữ liệu đầy đủ. Hai bên thống nhất sớm rà soát, cập nhật thông tư để bổ sung các chỉ tiêu mới về chuyển đổi số, logistics xanh, tiến tới hình thành nguồn số liệu thống kê logistics chính thức.
Xây dựng dữ liệu logistics vì thế là bước đi nền tảng, đúng tinh thần Nghị quyết số 19 về quản trị dựa trên dữ liệu và đo lường bằng kết quả.
Đa phương thức là chìa khóa giảm chi phí
Nếu chi phí cao phần lớn do mạng lưới hạ tầng thiếu kết nối, thì lời giải nằm ở cụm từ “đa phương thức”. Đây cũng là điểm chung được nhiều địa phương kiến nghị gần đây.
Tỉnh Quảng Trị đề xuất năm trụ cột, trong đó nhấn mạnh hoàn thiện hạ tầng chiến lược với ưu tiên đường bộ cao tốc và đường sắt liên vận, thúc đẩy khu thương mại tự do gắn với Cảng Mỹ Thủy, cùng số hóa vận đơn và phát triển hạ tầng logistics số. Hải Phòng, một địa phương cửa ngõ phía Bắc, cho biết sẽ tập trung sáu nhóm giải pháp, gồm hoàn thiện hạ tầng kết nối đa phương thức, tăng tần suất tàu container quốc tế, chuyển đổi số toàn diện và phát triển logistics xanh. Điểm chung của các đề xuất là chuyển trọng tâm từ vận tải đường bộ đơn lẻ vốn đắt đỏ và quá tải sang một mạng lưới kết nối cảng biển, đường sắt, đường thủy nội địa và trung tâm logistics.
Nhấn mạnh tính liên vùng của logistics, đại diện TP. Hồ Chí Minh khẳng định, đây là lĩnh vực không một địa phương nào có thể phát triển riêng lẻ. Do đó, bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục hoàn thiện quy hoạch, đầu tư và khai thác hiệu quả các hành lang vận tải, trung tâm logistics và đầu mối giao thông chiến lược và tăng cường chia sẻ dữ liệu.
Hướng đi này cộng hưởng với những dự án hạ tầng lớn đang hình thành: các tuyến đường sắt kết nối cảng, trung tâm logistics vùng, và mô hình khu thương mại tự do gắn với cảng biển như Cái Mép Hạ. Khi hàng hóa được chuyển tải thông suốt giữa các phương thức, chi phí sẽ giảm mà không cần ép giá doanh nghiệp vận tải.
Hướng tới nâng cao giá trị gia tăng cho ngành
Giảm chi phí logistics là bài toán liên ngành, trong đó ngành Công Thương giữ vai trò nhạc trưởng. Trước hết là hoàn thiện và triển khai chiến lược phát triển dịch vụ logistics theo hướng giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ dừng ở dịch vụ vận tải. Tiếp đến là phát triển các trung tâm logistics vùng gắn với khu công nghiệp và hành lang kinh tế, đẩy mạnh logistics xanh và chuyển đổi số toàn ngành.
Logistics xanh và logistics số cũng là hai mặt trận cạnh tranh mới. Khi các thị trường lớn siết tiêu chuẩn phát thải trên toàn chuỗi cung ứng, một hệ thống vận tải phát thải thấp, số hóa vận đơn và minh bạch dữ liệu hành trình sẽ trở thành lợi thế cho hàng xuất khẩu Việt. Đây cũng là lý do các địa phương như Hải Phòng, Quảng Trị đều đặt chuyển đổi số và logistics xanh vào nhóm giải pháp ưu tiên.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) Đào Trọng Khoa, trước đây năng lực cạnh tranh của logistics được đo bằng tốc độ và chi phí, thì hôm nay năng lực cạnh tranh được quyết định bởi công nghệ, dữ liệu và phát triển bền vững.
Ông Đào Trọng Khoa cho biết, VLA có 3 hướng ưu tiên cho giai đoạn tới: chuẩn hóa dịch vụ, nhân lực và dữ liệu; đồng hành cùng doanh nghiệp chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu Net Zero; đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để xây dựng hệ sinh thái logistics thông minh.
Một nhiệm vụ then chốt khác là nuôi dưỡng doanh nghiệp logistics nội đủ mạnh. Phần lớn doanh nghiệp trong nước hiện có quy mô nhỏ, làm dịch vụ đơn lẻ, trong khi mảng giá trị cao phần lớn thuộc doanh nghiệp nước ngoài. Liên kết các doanh nghiệp nội thành chuỗi, hình thành những đơn vị dẫn dắt, là cách giữ lại giá trị gia tăng trong nước. Điều này cũng phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 19 về phát triển doanh nghiệp dẫn dắt, đầu chuỗi. Xuyên suốt, việc đưa chỉ tiêu chi phí logistics trên GDP thành một thước đo điều hành sẽ buộc mọi chính sách phải hướng tới kết quả đo đếm được.
Logistics là mạch máu của nền kinh tế, mạch máu tắc thì cơ thể không thể khỏe. Nghị quyết số 19 đã đặt đúng vị trí cho ngành. Phần còn lại là tốc độ thực thi: hoàn thiện hạ tầng đa phương thức, xây dựng nền tảng dữ liệu đầy đủ, tin cậy và phát triển doanh nghiệp nội. Thành công của nỗ lực ấy sẽ được đo bằng hai con số rất cụ thể mà Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050 hướng tới: chi phí logistics trên GDP giảm xuống, và thứ hạng năng lực logistics của Việt Nam đi lên.
Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt ra những mục tiêu hết sức cụ thể, đó là: Tỷ trọng giá trị tăng thêm của dịch vụ logistics trong tổng sản phẩm trong nước đạt 5% - 7%; tốc độ tăng trưởng trung bình của dịch vụ logistics đạt 12% - 15%; chi phí logistics so với tổng sản phẩm trong nước giảm còn 12 - 15% (hiện nay là 17%).











