Khơi thông nguồn cung vật liệu, thúc đẩy tiến độ đầu tư công
Nhu cầu vật liệu xây dựng gia tăng cùng lúc với hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm đang triển khai, đòi hỏi cơ chế điều phối nguồn cung liên vùng và tháo gỡ thủ tục khai thác khoáng sản để bảo đảm tiến độ đầu tư công.
Nhiều dự án “khát” vật liệu
Nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các dự án đầu tư công tại TP. Hồ Chí Minh (HCM) đang tạo áp lực lớn lên khả năng cung ứng của thị trường, đặc biệt đối với cát xây dựng và cát san lấp. Đây cũng là một trong những yếu tố cần được giải quyết để bảo đảm tiến độ các công trình giao thông trọng điểm đang triển khai trên địa bàn Thành phố và khu vực lân cận.
Thông tin mới đây từ Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP.HCM (Ban Giao thông) cho biết, trong 4 tháng cuối năm 2026, riêng 20 dự án do đơn vị quản lý có nhu cầu khoảng 1,91 triệu m3 đá xây dựng, 550.000 m3 cát xây dựng, 1,85 triệu m3 cát san lấp và 3,7 triệu m3 đất đắp.

Dự án nút giao An Phú tại TP.HCM nhìn từ trên cao. Ảnh: Lê Toàn.
Tuy vậy, khả năng cung ứng của các mỏ hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Công suất khai thác cát xây dựng chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu, trong khi cát san lấp đáp ứng khoảng 38%. Đối với đá xây dựng và đất đắp, nguồn cung cơ bản có thể cân đối nhưng vẫn cần điều phối để phù hợp với tiến độ thi công từng dự án.
Tính đến cuối tháng 10/2026, khối lượng vật liệu mà các công trình do Ban Giao thông quản lý còn phải huy động gồm khoảng 1,44 triệu m3 cát san lấp, 350.000 m3 cát xây dựng, 900.000 m3 đá và 3 triệu m3 đất đắp. Trong đó, nhu cầu đất đắp còn thiếu tập trung chủ yếu tại khu vực Bình Dương trước đây.
Thực tế này cho thấy bài toán vật liệu không còn giới hạn trong phạm vi từng công trình hay địa phương, mà đã trở thành vấn đề liên kết cung ứng của cả vùng kinh tế phía Nam. Khi nhiều dự án cùng bước vào giai đoạn tăng tốc thi công, khả năng tiếp cận nguồn mỏ, công suất khai thác và chi phí vận chuyển có ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ cũng như chi phí đầu tư.
Cần cơ chế để khơi thông nguồn lực
Để giải quyết khó khăn mang tính dài hạn, Ban Giao thông kiến nghị UBND TP.HCM và các sở, ngành tiếp tục áp dụng, mở rộng cơ chế đặc thù trong cấp phép khai thác đối với các mỏ cung cấp vật liệu chủ yếu như cát nghiền, cát, đất và đá xây dựng. Đơn vị cũng đề xuất có cơ chế kiểm soát giá bán tại các mỏ được cấp phép theo cơ chế đặc thù, bảo đảm ưu tiên cung ứng cho công trình trọng điểm của Thành phố.
Từ góc độ chuyên ngành, TS. Võ Minh Đức, Phó chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam cho biết, điểm nghẽn lớn hiện nay là chưa có tổ chức đầu mối tổng hợp nhu cầu và điều tiết nguồn vật liệu xây dựng thông thường như đá, cát, sỏi và vật liệu san lấp ở quy mô liên vùng. Việc cung ứng chưa gắn kết chặt chẽ với bài toán logistics và chi phí vận chuyển, dẫn đến tình trạng mất cân đối nguồn cung khi nhiều dự án đồng loạt triển khai.
Để giải quyết vấn đề này, ông Đức kiến nghị Bộ Xây dựng phát huy vai trò đầu mối xây dựng kế hoạch nhu cầu vật liệu xây dựng thông thường, chỉ đạo phối hợp liên vùng và thực hiện chức năng điều tiết của Nhà nước đối với các dự án đầu tư công. Các địa phương cần xây dựng quy hoạch nhu cầu vật liệu phù hợp với quy hoạch khoáng sản; đồng thời, trong các chương trình phát triển kinh tế liên tỉnh, liên vùng khu vực phía Nam và Đồng bằng sông Cửu Long, cần tính toán nhu cầu vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
“Để đảm bảo việc đáp ứng vật liệu cho Đầu tư công cũng như phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội, về quản lý nhà nước cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm” - TS. Võ Minh Đức, Phó chủ tịch Hội Vật liệu xây dựng Việt Nam.
Bên cạnh điều phối nguồn cung, một giải pháp quan trọng khác là tạo điều kiện để các mỏ đang hoạt động nâng công suất, khai thác xuống sâu đến cốt quy hoạch và mở rộng, thông moong giữa các mỏ liền kề.
Đối với thủ tục thăm dò khoáng sản nhóm III, trong đó có đá xây dựng thông thường, ông Đức kiến nghị cơ quan quản lý chuyên ngành ban hành quy định kỹ thuật phù hợp, đặc biệt về mạng lưới thăm dò và các kỹ thuật liên quan. Đồng thời, cần sớm khoanh định, phê duyệt khu vực không đấu giá đối với phần tài nguyên xuống sâu, mở rộng và thông moong tại các mỏ đang khai thác, cũng như những khu vực đã được quy hoạch nhưng không thể tách thành dự án độc lập.
Ở góc độ doanh nghiệp khai khoáng, ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp khoáng sản TP.HCM cho rằng, cần có chính sách tháo gỡ để nguồn cung vật liệu xây dựng không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu mà còn có dư địa phù hợp nhằm bình ổn giá, hạn chế phát sinh chi phí và tăng vốn đầu tư các công trình hạ tầng.
Theo ông Đạt, cần cho phép các mỏ đang hoạt động hoàn thiện thủ tục mở rộng xuống sâu, tăng công suất khai thác, chế biến ngay trong phạm vi trữ lượng đã được cấp phép. Điều này vừa giúp bổ sung nguồn cung kịp thời, vừa tránh lãng phí tài nguyên đã được thăm dò, đồng thời tạo điều kiện để các công trình nhà nước và người dân tiếp cận vật liệu với mức giá hợp lý.
Một vấn đề khác được Hiệp hội Công nghiệp khoáng sản TP.HCM kiến nghị là cần hướng dẫn cụ thể hơn về việc khoanh định khu vực đấu giá và không đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Theo ông Đạt, với các mỏ đang khai thác hợp pháp, việc mở rộng xuống sâu hoặc mở rộng biên cần bảo đảm quyền ưu tiên của doanh nghiệp hiện hữu, tránh chia tách các mỏ lớn thành nhiều mỏ nhỏ, manh mún, gây lãng phí tài nguyên và ảnh hưởng đến an toàn khai thác.
Đối với các khu vực mỏ đưa ra đấu giá, ông Đạt kiến nghị Nhà nước thực hiện giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất sạch trước khi tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản gắn với quyền sử dụng đất. Trường hợp chưa bố trí được nguồn vốn giải phóng mặt bằng, cần có cơ chế không đấu giá hoặc ưu tiên cấp phép cho doanh nghiệp đã tự bỏ chi phí đền bù đất đai để thực hiện dự án.
“Khi các nút thắt về cơ chế chính sách được tháo gỡ, các doanh nghiệp chúng tôi cam kết sẽ dồn toàn lực, huy động tối đa nguồn vốn và nhân lực để đầu tư công nghệ khai thác tiên tiến, hiện đại hóa quy trình chế biến theo hướng xanh và bền vững”, ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp khoáng sản TP.HCM chia sẻ./.
Theo Ban Giao thông TP.HCM, áp lực nguồn cung thể hiện rõ tại một số dự án có khối lượng thi công lớn. Đơn cử, cao tốc TP.HCM - Mộc Bài cần khoảng 1,53 triệu m3 cát san lấp, 2,67 triệu m3 đất đắp và 380.000 m3 đá xây dựng. Trong khi đó, riêng dự án Vành đai 3 cần khoảng 870.000 m3 đá xây dựng. Các dự án nút giao An Phú, nút giao Mỹ Thủy và đường nối cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây cũng có nhu cầu vật liệu đáng kể.

