Khơi thông nguồn lực để văn hóa trở thành động lực tăng trưởng
Việc Bộ VHTTDL đang khẩn trương xây dựng dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, tháo gỡ những "điểm nghẽn" tồn tại nhiều năm, đưa công nghiệp văn hóa trở thành một ngành kinh tế chiến lược, góp phần nâng cao sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng tạo cú huých gỡ điểm nghẽn thể chế, thúc đẩy công nghiệp văn hóa.
Từ khoảng trống pháp lý đến yêu cầu cấp thiết
Sau hơn một thập kỷ thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, Việt Nam đã từng bước hình thành hệ sinh thái sáng tạo với sự phát triển của nhiều lĩnh vực. Nhiều sản phẩm văn hóa mang dấu ấn Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người và bản sắc văn hóa dân tộc.
Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Theo đánh giá của cơ quan quản lý, tỷ trọng đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào GDP giai đoạn 2018-2025 mới đạt khoảng 4-5%, còn khoảng cách khá xa so với mục tiêu tối thiểu 7% vào năm 2030 theo Nghị quyết số 80-NQ/TW. Điều đó cho thấy công nghiệp văn hóa khó có thể tạo bước bứt phá nếu thiếu một "cú huých" đủ mạnh từ chính sách kiến tạo của Nhà nước.
Một trong những nguyên nhân do hệ thống pháp luật hiện hành còn phân tán, điều chỉnh theo từng lĩnh vực chuyên ngành. Những quy định liên quan đến sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư, tài chính, sản xuất, phân phối, thương mại hóa hay tái đầu tư nằm ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, khiến doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo gặp không ít khó khăn trong quá trình phát triển.
Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo đang trở thành xu hướng phát triển của nhiều quốc gia, việc thiếu một đạo luật mang tính tổng thể khiến nhiều tiềm năng văn hóa chưa thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Không ít sản phẩm sáng tạo có chất lượng nhưng gặp khó trong huy động nguồn lực, bảo hộ tài sản trí tuệ, tiếp cận thị trường cũng như mở rộng quy mô sản xuất.
Từ thực tiễn đó, việc xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được đánh giá là yêu cầu khách quan và cấp thiết. Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang khẩn trương xây dựng dự án Luật theo quy trình rút gọn để trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2026.
Điểm nhấn xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật là quan điểm: "Chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế." Đây được xem là định hướng quan trọng nhằm khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên văn hóa phong phú của Việt Nam, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Theo đó, dự án Luật hướng tới ba mục tiêu lớn: xác lập vị trí của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế Việt Nam; kết nối chuỗi giá trị để gia tăng giá trị kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu và thu hút đầu tư chiến lược; đồng thời lan tỏa bản sắc văn hóa, thương hiệu Việt Nam và sức mạnh mềm quốc gia trên trường quốc tế.
Dự thảo Luật gồm 9 chương, 60 điều, tập trung vào 6 nhóm chính sách lớn, gồm: phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; phát triển nhân lực và nhân tài; phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa; phát triển thị trường công nghiệp văn hóa; hỗ trợ tài chính và ưu đãi đầu tư.

Những dự án, sản phẩm âm nhạc hà Nội đang triển khai phục vụ du lịch, góp phần phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô.
Hoàn thiện thể chế để khơi thông nguồn lực sáng tạo
Nhiều chuyên gia, nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là bước đi cần thiết và kịp thời nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp văn hóa. Đây được xem là một đạo luật quan trọng trong hệ thống pháp luật về văn hóa, góp phần hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sáng tạo, đầu tư và phát triển thị trường.
Tại các hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật, các cơ quan, tổ chức và chuyên gia đã tập trung góp ý nhiều nội dung như khái niệm công nghiệp văn hóa; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; rà soát các điều khoản giao Chính phủ quy định chi tiết; phân định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước; phát triển và mở rộng thị trường công nghiệp văn hóa; hoàn thiện các quy định về tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa...
Ông Nguyễn Trường Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, bày tỏ sự đồng tình cao với chủ trương xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Theo ông, việc xây dựng Luật là rất cần thiết và kịp thời nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng trong lĩnh vực này.
Đóng góp vào dự thảo, ông Sơn cho rằng tại Điều 1 về phạm vi điều chỉnh nên bổ sung cụm từ "trong việc tổ chức và thực hiện phát triển công nghiệp văn hóa trên lãnh thổ Việt Nam và nước ngoài" để phạm vi điều chỉnh toàn diện hơn, phù hợp với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối với Điều 8 quy định về các hành vi bị cấm, ông đề xuất bổ sung hành vi "Lợi dụng các hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa gây ảnh hưởng đến hình ảnh của Việt Nam ở trong nước và trên trường quốc tế", nhằm góp phần bảo vệ uy tín và hình ảnh quốc gia trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa.
Ở góc độ nghiên cứu, TS Nguyễn Thị Quý Phương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí - Truyền thông, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV tư vấn QP Việt Nam, cho rằng dự thảo đã thể hiện bước chuyển quan trọng từ cách tiếp cận quản lý hoạt động văn hóa theo từng lĩnh vực sang tiếp cận công nghiệp văn hóa như một hệ thống hoạt động kinh tế dựa trên sáng tạo, tài nguyên văn hóa, công nghệ và tài sản trí tuệ.
Theo bà, việc xác lập chuỗi giá trị từ sáng tạo, phát triển, sản xuất, phân phối, thương mại hóa, trình diễn, tiêu dùng đến tái đầu tư là hướng tiếp cận phù hợp để liên kết chính sách văn hóa với chính sách thị trường, đầu tư, tài chính, công nghệ và sở hữu trí tuệ.
Đề cập đến những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện, TS Nguyễn Thị Quý Phương cho rằng dự thảo Luật cần được chỉnh lý theo hướng giảm tư duy quản lý tiền kiểm hành chính, tăng tính kiến tạo thị trường, đồng thời xử lý rõ hơn mối quan hệ giữa bảo tồn giá trị gốc của di sản với việc khai thác thương mại các sản phẩm phái sinh từ di sản.

Với hệ thống di tích, di sản văn hóa nhiều nhất cả nước, Hà Nội có lợi thế, nguồn lực để phát triển công nghiệp văn hóa.
Trong khi đó, ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Le Group of Companies, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nhân Sáng tạo, đánh giá dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là một bước tiến quan trọng trong quá trình thể chế hóa tư duy phát triển mới đối với văn hóa ở Việt Nam.
Ông đề nghị định nghĩa công nghiệp văn hóa là hệ thống các hoạt động kinh tế dựa chủ yếu trên sáng tạo, giá trị và nội dung văn hóa, tài sản trí tuệ cùng các nguồn vốn văn hóa để sản xuất, phân phối, phổ biến và thương mại hóa các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, qua đó tạo ra giá trị kinh tế, văn hóa và xã hội.
Theo ông Lê Quốc Vinh, những mục tiêu như phát triển con người, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia đều rất quan trọng đối với công nghiệp văn hóa. Tuy nhiên, các nội dung này nên được quy định như mục tiêu và nguyên tắc phát triển của Luật, thay vì trở thành những thuộc tính cấu thành khái niệm công nghiệp văn hóa.
Việc lấy ý kiến của giới chuyên gia, nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp sẽ góp phần hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước, vừa tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường. Khi được ban hành, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng sẽ trở thành nền tảng pháp lý quan trọng, khơi thông nguồn lực xã hội, thúc đẩy chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành giá trị kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới của đất nước trong giai đoạn phát triển tới.












