Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng
Các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, huy động nguồn lực xã hội và đầu tư đồng bộ hạ tầng để bảo đảm an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Ngày 17/7, tại TP.HCM, Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp tổ chức hội thảo “An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng”.
Tại hội thảo, các chuyên gia nhận định Việt Nam có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển năng lượng, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, huy động nguồn lực và đầu tư đồng bộ hạ tầng để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra.

Các đại biểu tham dự Hội thảo “An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng”.
Huy động nguồn lực xã hội
An ninh năng lượng trong giai đoạn mới không còn là nhiệm vụ riêng của ngành điện. Theo các chuyên gia, doanh nghiệp phải trở thành một mắt xích của hệ sinh thái năng lượng, từ sản xuất, lưu trữ đến sử dụng điện hiệu quả.
PGS.TS Phạm Xuân Mai, Cố vấn cao cấp Kim Long Motor, cho rằng một hệ thống năng lượng bền vững cần đáp ứng 5 yêu cầu: Bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng; có khả năng thích ứng trước biến động; chi phí hợp lý; phát triển xanh; từng bước làm chủ công nghệ.
Theo ông, ngành ô tô điện sẽ góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi năng lượng. Quyết định 876/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2025, 100% xe buýt đầu tư mới hoặc thay thế sử dụng điện hoặc năng lượng xanh; đến năm 2030, ít nhất 50% xe buýt chuyển sang dùng điện.
Không chỉ thay thế nhiên liệu hóa thạch, xe điện còn có thể trở thành “kho lưu trữ năng lượng di động”, hỗ trợ điều tiết phụ tải và sử dụng hiệu quả nguồn điện tái tạo.
Ông Mai đề xuất quy hoạch đồng bộ giữa năng lượng, giao thông và công nghiệp; áp dụng cơ chế giá điện linh hoạt; hoàn thiện tiêu chuẩn cho xe điện, pin, trạm sạc; phát triển chuỗi giá trị xe điện trong nước.
Đại diện Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) cho biết nhu cầu điện của thành phố dự kiến tăng từ 59,7 tỷ kWh năm 2026 lên khoảng 75,1 tỷ kWh vào năm 2030.
Hiện TP.HCM có 25.932 hệ thống điện mặt trời mái nhà, với tổng công suất 1.928 MWp, tương đương 21,6% công suất hệ thống điện của thành phố. Mỗi tháng, các hệ thống này phát khoảng 231,3 triệu kWh, đáp ứng 4,4% sản lượng điện thương phẩm.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, TP.HCM đặt mục tiêu nâng công suất điện mặt trời mái nhà lên 2.786 MW vào năm 2030. EVNHCMC kiến nghị khuyến khích đầu tư điện mặt trời kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS), góp phần nâng cao hiệu quả vận hành lưới điện.
Ông Trần Quốc Tâm, đại diện Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP.HCM (HCMREA), cho biết nhu cầu điện của Việt Nam dự kiến tăng 12-13% mỗi năm.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tổng công suất nguồn điện cần tăng từ khoảng 87.600 MW hiện nay lên 183.291 MW, hoặc 236.363 MW theo kịch bản tăng trưởng cao.
Việt Nam có tiềm năng khoảng 963 GW điện mặt trời, 221 GW điện gió trên bờ và gần bờ, cùng 600 GW điện gió ngoài khơi.
Để khai thác hiệu quả, ông Tâm đề xuất hoàn thiện cơ chế cho hệ thống lưu trữ năng lượng, mở rộng tín dụng xanh, áp dụng giá điện theo thời gian, phát triển mô hình ESCO và thí điểm nhà máy điện ảo.
Hoàn thiện cơ chế, mở rộng nguồn lực đầu tư năng lượng
TS. Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nhấn mạnh năng lượng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, phát triển bền vững, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh của Việt Nam trong giai đoạn tới.

TS. Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam phát biểu tại hội thảo.
Sự phát triển nhanh của kinh tế số, AI, điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ cao đang làm nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng. Trong bối cảnh đó, bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định, an toàn và bền vững không chỉ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mà còn góp phần củng cố quốc phòng, an ninh quốc gia.
Từ góc độ nghiên cứu, GS.TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh doanh, Đại học Kinh tế TP.HCM, cho rằng Việt Nam cần tập trung vào ba nhóm vấn đề.
Trước hết, cơ chế giá điện cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng phản ánh phù hợp chi phí sản xuất, qua đó tạo nguồn lực cho đầu tư lưới điện và các dự án nguồn mới.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường điện và năng lượng tái tạo, tạo điều kiện huy động vốn trong và ngoài nước, nhất là đối với các dự án điện gió ngoài khơi có quy mô lớn và thời gian chuẩn bị dài.
Cuối cùng, về hạ tầng, cần tiếp tục nâng cao năng lực truyền tải, đồng thời đầu tư đồng bộ hệ thống lưu trữ năng lượng, hạ tầng LNG và cảng phục vụ điện gió ngoài khơi.
Từ những yêu cầu trên, GS.TS Võ Xuân Vinh đề xuất tiếp tục hoàn thiện thị trường điện, nâng cao hiệu quả hoạt động của EVN, triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), đồng thời đẩy nhanh đầu tư lưới truyền tải và hệ thống lưu trữ năng lượng.
Theo ông, nhu cầu sử dụng điện sạch từ các trung tâm dữ liệu và lĩnh vực AI có thể tạo thêm động lực cho đầu tư năng lượng tái tạo khi cơ chế DPPA được triển khai hiệu quả.
Năng lượng là “hạ tầng của hạ tầng”
Ông Huỳnh Anh Tuyên, Phó Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Công Thương khu vực miền Trung - miền Nam, cho rằng an ninh năng lượng là nền tảng cho tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội, quốc phòng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong bối cảnh giá nhiên liệu biến động, chuỗi cung ứng thay đổi và các ngành công nghệ mới phát triển nhanh, việc bảo đảm nguồn cung điện ổn định, bền vững ngày càng quan trọng.

Các đại biểu tham gia thảo luận tại Hội thảo “An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng”.
Bộ Công Thương đang phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp để đa dạng hóa nguồn cung, phát triển năng lượng tái tạo, hoàn thiện cơ chế, chính sách và xây dựng hệ thống năng lượng hiện đại, linh hoạt.
NCS., ThS. Nguyễn Đức Tính, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, cho rằng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia không chỉ là tăng nguồn cung hay mở rộng dự trữ mà còn phải khai thác hiệu quả các nguồn năng lượng trong nước.
Việt Nam có tiềm năng về dầu khí, điện gió, điện mặt trời, sinh khối và năng lượng từ rác thải. Nếu được kết nối và khai thác hiệu quả, các nguồn lực này sẽ góp phần nâng cao tính tự chủ và khả năng thích ứng trước biến động.
Ông Nguyễn Đức Tính đề xuất tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để khuyến khích đầu tư vào khoa học - công nghệ, tiếp nhận công nghệ tiên tiến và phát triển công nghệ lõi trong lĩnh vực năng lượng.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng của tài nguyên, từng bước làm chủ công nghệ và phát huy hiệu quả nguồn lực trong nước.
PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cho rằng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng của phát triển đất nước. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần xây dựng hệ thống năng lượng hiện đại, an toàn và tự chủ.

PGS.TS Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, phát biểu tại hội thảo.
Theo ông, Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt nền tảng cho chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh AI, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, bán dẫn và các công nghệ số phát triển mạnh, năng lượng không chỉ là đầu vào của sản xuất mà còn là yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia.
“Năng lượng chính là hạ tầng của hạ tầng”, PGS.TS Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh.
PGS.TS Huỳnh Thành Đạt nhận định, khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng không chỉ là huy động vốn mà còn phải gắn với hoàn thiện thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực doanh nghiệp và mở rộng hợp tác quốc tế.
Ông cho rằng, việc đầu tư đồng bộ hạ tầng năng lượng sẽ giúp Việt Nam đón đầu làn sóng đầu tư vào AI, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ chiến lược, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn.













