Khơi thông nguồn vốn cho hợp tác xã khi lãi suất ưu đãi chưa phát huy hiệu quả

Trong bối cảnh thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị và phát triển kinh tế tập thể theo Nghị quyết số 68-NQ/TW, bài toán vốn cho hợp tác xã vẫn là điểm nghẽn lớn. Dù lãi suất ưu đãi đã được triển khai, dòng vốn chưa 'chảy' mạnh, đòi hỏi hoàn thiện cơ chế và nâng cao năng lực nội tại.

Nâng cao năng lực nội tại là điều kiện để hợp tác xã tiếp cận hiệu quả các nguồn lực tài chính.

Nâng cao năng lực nội tại là điều kiện để hợp tác xã tiếp cận hiệu quả các nguồn lực tài chính.

Chính sách tín dụng đã mở nhưng dòng vốn chưa thực sự đến được hợp tác xã

Tại Diễn đàn Hợp tác xã Quốc gia lần thứ 3 năm 2026 vừa diễn ra gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh khẳng định khu vực kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã, giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối nông dân với doanh nghiệp, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm trong chuỗi giá trị.

Để hỗ trợ khu vực này, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Trong đó, việc duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ở mức thấp đối với các lĩnh vực ưu tiên là một điểm đáng chú ý. Hiện nay, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với các lĩnh vực ưu tiên, trong đó có hợp tác xã, được quy định tối đa khoảng 4%/năm.

Bên cạnh đó, các cơ chế tín dụng đặc thù cũng được mở rộng. Mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã có thể đạt tới 5 tỷ đồng; đối với các hợp tác xã tham gia liên kết với doanh nghiệp hoặc ứng dụng công nghệ cao, mức vay có thể lên tới 70-80% giá trị dự án. Đồng thời, các tổ chức tín dụng được phép áp dụng các biện pháp cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ hoặc khoanh nợ khi hợp tác xã gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh.

Ngành Ngân hàng cũng triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi theo ngành hàng. Tiêu biểu là chương trình phát triển một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm; đến nay đã có 8 ngân hàng thương mại tham gia, với tổng doanh số giải ngân đạt khoảng 3.200 tỷ đồng. Bên cạnh đó là chính sách tín dụng theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó hợp tác xã tham gia chuỗi giá trị được vay vốn với lãi suất chỉ bằng 50% lãi suất hộ cận nghèo (khoảng 3,74%/năm).

Định hướng tín dụng cũng được tập trung vào các động lực tăng trưởng như sản xuất theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và phát triển các sản phẩm OCOP.

Những chính sách này đã mang lại kết quả bước đầu. Dư nợ cho vay đối với hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã đạt khoảng 7 nghìn tỷ đồng; nếu tính cả các cá nhân, hộ gia đình là thành viên hợp tác xã, tổng dư nợ đạt hơn 8,5 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 46% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Không chỉ cấp vốn, các tổ chức tín dụng còn tham gia tư vấn xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, hỗ trợ hợp tác xã thiết lập hợp đồng bao tiêu sản phẩm, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp góp vốn hoặc bảo lãnh tín dụng, góp phần giảm áp lực tài sản bảo đảm và tăng cường liên kết chuỗi.

Tuy nhiên, dù chính sách đã được thiết kế theo hướng mở, thực tế cho thấy việc tiếp cận vốn của hợp tác xã vẫn còn nhiều khó khăn.

Điểm nghẽn không chỉ từ cơ chế mà còn từ nội tại hợp tác xã

Theo Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh, một số hợp tác xã vẫn phản ánh khó tiếp cận tín dụng. Nguyên nhân không chỉ nằm ở cơ chế, mà còn xuất phát từ chính nội tại của khu vực này.

Nhiều hợp tác xã cho rằng khó khăn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách, mà là khó đáp ứng các điều kiện để tiếp cận vốn.

Ông Lưu Văn Diễn, Chủ tịch Hội đồng quản trị hợp tác xã cơ giới, xây dựng Vĩnh Thái cho biết, hợp tác xã vẫn gặp vướng mắc khi tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm, trong khi nhu cầu vốn để đầu tư sản xuất là rất lớn.

Trong khi đó, bà Vũ Thị Lệ Thủy, Giám đốc hợp tác xã 3T nông sản Cao Phong cho rằng, dù đã có liên kết và bao tiêu sản phẩm, nhưng các hợp đồng hiện nay chủ yếu mang tính ngắn hạn, chưa tạo được sự ổn định và niềm tin lâu dài giữa các bên.

Ở góc nhìn khác, ông Phạm Kim Tiến, Giám đốc hợp tác xã nông nghiệp Sen Quê Bác nhấn mạnh, hợp tác xã muốn tham gia sâu vào chuỗi giá trị và tiếp cận được các nguồn lực, trước hết phải nâng cao năng lực nội tại, từ chất lượng sản phẩm đến tính minh bạch trong hoạt động.

Những ý kiến từ thực tiễn cho thấy một điểm chung: mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị đã bước đầu hình thành, nhưng cơ chế tín dụng vẫn chủ yếu dựa vào tài sản bảo đảm, trong khi năng lực nội tại của nhiều hợp tác xã chưa đáp ứng được yêu cầu mới.

Bên cạnh đó, nhiều hợp tác xã còn gặp khó khăn trong việc xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, hoàn thiện hồ sơ vay vốn và minh bạch tài chính. Việc thiếu dữ liệu về dòng tiền, vùng nguyên liệu và hợp đồng liên kết khiến các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả và kiểm soát rủi ro.

Thực tế đó cho thấy, dòng vốn chưa thực sự “chảy theo chuỗi giá trị”, mà vẫn vận hành theo cơ chế truyền thống. Khi tín dụng chưa gắn với hiệu quả liên kết và dòng tiền thực tế, khả năng tiếp cận vốn của hợp tác xã sẽ tiếp tục bị hạn chế.

Về pháp lý, theo luật sư Trương Thanh Đức, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, hiện nay nhiều nguồn lực và cơ chế chính sách đang tập trung vào khu vực doanh nghiệp, trong khi hợp tác xã lại thiếu vốn và thiếu các điều kiện hỗ trợ để phát triển, mở rộng sản xuất. Đáng chú ý, trong tiếp cận tín dụng, doanh nghiệp có thể vay vốn ngân hàng mà không cần tài sản bảo đảm, trong khi hợp tác xã lại không có điều kiện tương tự.

Từ thực tế đó, luật sư Trương Thanh Đức đặt vấn đề, các chính sách cần được thiết kế phù hợp hơn với đặc thù của mô hình hợp tác xã, vốn dựa trên liên kết sản xuất và có thành viên chủ yếu là nông dân.

Khơi thông vốn cần cách tiếp cận đồng bộ

Trong bối cảnh đó, các mục tiêu phát triển khu vực kinh tế tập thể tiếp tục được đặt ra với yêu cầu cao hơn. Nghị quyết số 20 đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50% hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi giá trị. Kết luận số 18-KL/TW năm 2026 cũng xác định yêu cầu đột phá phát triển kinh tế tập thể gắn với khoa học công nghệ và chuyển đổi số.

Để thực hiện các mục tiêu này, Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh cho biết Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách, cải tiến quy trình cấp tín dụng phù hợp hơn với thực tiễn của hợp tác xã; đồng thời đẩy mạnh các gói tín dụng lãi suất thấp, ưu tiên các mô hình liên kết hợp tác xã-doanh nghiệp.

Cùng với đó, cần phối hợp với các bộ, ngành để sửa đổi Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, hoàn thiện cơ chế liên kết chuỗi giá trị, xây dựng cơ sở dữ liệu kiểm soát dòng tiền và hợp đồng. Việc tổng kết, đánh giá quy định về hợp tác xã thành lập doanh nghiệp theo Luật Hợp tác xã năm 2023 cũng được đặt ra nhằm thúc đẩy mô hình “doanh nghiệp trong hợp tác xã”.

Ngoài ra, việc nhân rộng các mô hình liên kết hiệu quả thông qua sự phối hợp giữa Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các hiệp hội cũng được coi là giải pháp quan trọng.

Có thể thấy, bài toán vốn cho hợp tác xã không thể giải quyết chỉ bằng việc giảm lãi suất hay mở rộng hạn mức tín dụng.

Dù chính sách đã có nhiều cải thiện, dòng vốn vẫn chưa thực sự đến được với khu vực này do những hạn chế cả về cơ chế lẫn nội tại. Từ việc tín dụng chưa phù hợp với đặc thù hợp tác xã đến việc thiếu minh bạch thông tin và năng lực quản trị còn hạn chế, tất cả đang tạo ra những rào cản đối với tiếp cận vốn.

Để khơi thông dòng vốn, cần một cách tiếp cận đồng bộ hơn. Trong đó, cơ quan quản lý và ngành Ngân hàng tiếp tục hoàn thiện cơ chế tín dụng theo hướng phù hợp với mô hình hợp tác xã; đồng thời, bản thân các hợp tác xã cần nâng cao năng lực, minh bạch hoạt động và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Chỉ khi hai yếu tố này được cải thiện đồng thời, dòng vốn mới có thể thực sự “chảy” vào khu vực kinh tế tập thể, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy phát triển bền vững.

MINH PHƯƠNG

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/khoi-thong-nguon-von-cho-hop-tac-xa-khi-lai-suat-uu-dai-chua-phat-huy-hieu-qua-post955341.html