Không gian văn hóa của một di sản

Đô thị cổ Hội An từ lâu được biết đến như một thương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất của Việt Nam trong các thế kỷ XVI-XVIII. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn Hội An qua những dãy nhà cổ, các tuyến phố hay những công trình kiến trúc trong khu phố cổ hiện nay thì mới chỉ tiếp cận được phần nổi của di sản.

Bãi Ông, Cù Lao Chàm. Ảnh: H.X.T

Bãi Ông, Cù Lao Chàm. Ảnh: H.X.T

Trên thực tế, không gian văn hóa Hội An là một chỉnh thể rộng lớn, được hình thành từ sự tương tác lâu dài giữa tự nhiên và con người, giữa biển và sông, giữa đồng bằng và hải đảo, giữa cư dân bản địa với các cộng đồng thương nhân quốc tế. Không gian ấy trải dài từ vùng hạ lưu sông Thu Bồn, các làng quê và làng nghề ven sông, vùng cửa sông ven biển đến quần đảo Cù Lao Chàm ngoài khơi, tạo thành một hệ thống văn hóa thống nhất, trong đó, mỗi thành tố đều có vai trò riêng trong sự phát triển của đô thị.

Nơi sông gặp biển, nơi văn hóa hội tụ

Chiều sâu của không gian văn hóa Hội An được bồi đắp qua nhiều lớp văn hóa, nhiều thời kỳ lịch sử.

Trước khi trở thành thương cảng quốc tế, vùng đất Hội An là nơi cư trú của cư dân văn hóa Sa Huỳnh; tiếp đó là thời kỳ Champa, khi cửa Đại Chiêm và hạ lưu Thu Bồn giữ vị trí quan trọng trong mạng lưới giao thương trên biển. Từ thế kỷ XV, cùng với quá trình người Việt đến khai phá, các yếu tố văn hóa Champa và Việt đã giao thoa, tiếp biến, đặt nền tảng cho sự hình thành một đô thị cảng mang bản sắc riêng.

Nằm ở hạ lưu hệ thống sông Thu Bồn - con sông lớn nhất miền Trung - Hội An trở thành điểm kết nối giữa vùng nội địa với Biển Đông. Từ thượng nguồn Quảng Nam, các sản vật như quế Trà My, trầm hương, gỗ quý, thảo dược và nhiều lâm sản khác được vận chuyển theo dòng Thu Bồn xuống Hội An trước khi theo các tuyến hàng hải quốc tế đến nhiều quốc gia trong khu vực.

Ngược lại, hàng hóa từ Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á, Ấn Độ và phương Tây cũng theo các đoàn thuyền cập bến Hội An rồi phân phối vào vùng nội địa. Bởi vậy, sông Thu Bồn không chỉ là tuyến giao thông mà còn là trục kết nối kinh tế và văn hóa giữa miền núi, trung du, đồng bằng và biển đảo. Chính sự lưu chuyển của con người, hàng hóa và tri thức trên dòng sông này đã tạo nên sức sống bền vững cho thương cảng Hội An suốt nhiều thế kỷ.

Nếu Thu Bồn là mạch kết nối từ đất liền thì Cù Lao Chàm là cửa ngõ hướng ra biển. Trong lịch sử, cụm đảo này là nơi các đoàn thuyền quốc tế neo đậu tránh bão, lấy nước ngọt, bổ sung lương thực và chờ điều kiện thuận lợi để tiến vào Cửa Đại. Nhờ vị trí chiến lược ấy, Cù Lao Chàm trở thành một bộ phận không thể tách rời của thương cảng Hội An.

Ngày nay, việc UNESCO công nhận Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An tiếp tục khẳng định mối liên kết hữu cơ giữa đô thị cổ với hệ sinh thái cửa sông và biển đảo, đồng thời phản ánh truyền thống gắn bó lâu đời của cư dân Hội An với biển cả.

Chỉnh thể di sản thống nhất

Không gian văn hóa Hội An còn được nuôi dưỡng bởi nền văn hóa nông nghiệp của vùng hạ lưu Thu Bồn. Bao quanh phố Hội là hệ thống làng quê như Thanh Hà, Cẩm Kim, Cẩm Thanh, Trà Quế, Cẩm Châu, Cẩm Nam…, vừa cung cấp lương thực, thực phẩm cho đô thị, vừa bảo tồn nhiều nghề thủ công truyền thống.

Các làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu của cư dân địa phương mà còn tham gia trực tiếp vào hoạt động ngoại thương của thương cảng. Sản phẩm gốm, mộc, tre, mây, dừa nước và nhiều mặt hàng nông sản từng góp phần tạo nên sự phong phú của hàng hóa xuất khẩu, cho thấy mối quan hệ gắn bó giữa kinh tế đô thị với vùng nông thôn và hệ thống làng nghề phụ cận.

Trên nền tảng đó, hoạt động thương mại quốc tế đã tạo nên diện mạo đặc sắc của Hội An. Từ thế kỷ XVI, nơi đây trở thành điểm hội tụ tàu thuyền của các thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp cùng nhiều quốc gia Đông Nam Á. Sự hiện diện lâu dài của họ không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà còn mở ra quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa sâu sắc.

Các lĩnh vực kiến trúc, tín ngưỡng, ẩm thực, nghệ thuật trang trí, kỹ thuật xây dựng và tập quán thương mại đều phản ánh sự dung hợp giữa văn hóa Việt với một số nền văn hóa ngoại quốc.

Điều đáng chú ý là quá trình tiếp biến văn hóa ấy diễn ra theo hướng chọn lọc và sáng tạo. Các yếu tố văn hóa bên ngoài được tiếp nhận, Việt hóa và hòa nhập vào đời sống bản địa mà không làm mất đi bản sắc truyền thống. Chính khả năng dung hợp ấy đã tạo nên bản sắc riêng của Hội An - một đô thị thương cảng quốc tế nhưng vẫn giữ được cốt cách văn hóa Việt.

Qua nhiều thế kỷ, các lớp trầm tích lịch sử đã để lại dấu ấn trong hệ thống di tích khảo cổ, đình làng, chùa, hội quán, miếu thờ, lăng Ông, giếng cổ, bến nước, cầu cảng và mạng lưới giao thông thủy. Những yếu tố đó liên kết với cảnh quan tự nhiên, làng quê và không gian biển đảo, tạo nên một cấu trúc văn hóa thống nhất, phản ánh quá trình phát triển liên tục của vùng đất Hội An.

Vì vậy, việc nhận diện và bảo tồn Hội An ngày nay không thể chỉ giới hạn trong phạm vi khu phố cổ mà cần đặt trong tổng thể không gian văn hóa của vùng hạ lưu sông Thu Bồn và Cù Lao Chàm.

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản phải gắn với việc gìn giữ cảnh quan sông nước, hệ thống làng nghề truyền thống, các làng quê ven sông, vùng sinh thái đất ngập nước, không gian biển đảo và các tuyến giao thương lịch sử. Chỉ khi toàn bộ những thành tố ấy được bảo tồn như một chỉnh thể thống nhất thì giá trị nổi bật của Hội An mới được phát huy bền vững, xứng đáng với vị thế của một di sản văn hóa có ý nghĩa đối với Việt Nam và nhân loại.

HỒ XUÂN TỊNH

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/khong-gian-van-hoa-cua-mot-di-san-3345994.html