Không thể chỉ trông vào tín dụng ngân hàng để tăng trưởng 2 con số
Mục tiêu tăng trưởng hai con số đòi hỏi lượng vốn rất lớn, trong khi nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Theo các chuyên gia, phát triển đồng bộ thị trường vốn là điều kiện quan trọng để đa dạng hóa nguồn lực, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững.
Việt Nam vẫn phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng
Chính phủ đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức rất cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026 - 2030. Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, cao gấp hơn hai lần giai đoạn trước.
Trong khi đó, nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng trên GDP của Việt Nam thuộc nhóm cao so với các quốc gia có cùng mức thu nhập, tạo áp lực lớn đối với công tác điều hành, cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro thanh khoản. Tín dụng trung và dài hạn vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn cho hệ thống ngân hàng.
"Các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã tăng lên trong những năm gần đây nhưng vẫn còn khiêm tốn nếu so với nhu cầu vốn của nền kinh tế cũng như so với nhiều quốc gia trong khu vực", ông Phạm Đức Sơn - Tổng Biên tập Tạp chí Nhà đầu tư nhìn nhận tại hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" sáng 23/7 tại Hà Nội.

Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức.
Đồng quan điểm, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng lớn trong khi thị trường vốn phát triển chưa tương xứng, khiến gánh nặng tiếp tục dồn lên hệ thống ngân hàng. Điều này không chỉ tạo áp lực huy động vốn mà còn làm gia tăng rủi ro thanh khoản do nguồn cho vay chủ yếu vẫn dựa vào tiền gửi ngắn hạn.
Ở góc độ cơ quan quản lý thị trường chứng khoán, ông Hà Duy Tùng - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho biết quy mô thị trường tiếp tục được mở rộng với giá trị vốn hóa cổ phiếu tương đương hơn 82% GDP và giá trị huy động vốn qua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục tăng trưởng. Theo ông, thị trường chứng khoán đang ngày càng khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế.
"Không thể có một nền kinh tế phát triển bền vững nếu thiếu một thị trường chứng khoán đủ lớn, đủ sâu và đủ mạnh", ông Tùng nhấn mạnh.
Phân tích cơ cấu nguồn vốn của nền kinh tế, TS Cấn Văn Lực đánh giá, Việt Nam vẫn phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Theo cách tính của ông, tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 50 - 51% tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế, trong khi thị trường cổ phiếu chỉ chiếm khoảng 6,4%, trái phiếu doanh nghiệp khoảng 7%. Các nguồn vốn còn lại đến từ đầu tư công, FDI và vốn tự có của doanh nghiệp.
Như vậy, tổng quy mô của thị trường vốn, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư, mới chỉ chiếm khoảng 15 - 17% tổng nguồn vốn của nền kinh tế. Theo TS Cấn Văn Lực, tỷ trọng này cần được nâng lên khoảng 25 - 27% để tạo sự cân bằng trong cơ cấu vốn, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn còn nhiều nguồn lực chưa được khai thác hiệu quả. Tỷ lệ tiết kiệm của người dân hiện cao hơn tỷ lệ đầu tư, đồng nghĩa vẫn còn một lượng vốn nhàn rỗi đáng kể chưa được đưa vào nền kinh tế.

TS Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách Tài chính - Tiền tệ Quốc gia.
Ngoài ra, dù tài sản của hệ thống ngân hàng và thị trường cổ phiếu tăng trưởng khá nhanh, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn phát triển chậm hơn nhiều so với tiềm năng. Một nguồn lực khác là khoảng 200 tỷ USD tài sản số của người Việt đang được giao dịch hoặc đầu tư ở nước ngoài mỗi năm. Nếu sớm hoàn thiện khung pháp lý để thu hút dòng vốn này trở về trong nước, Việt Nam sẽ có thêm nguồn lực cho phát triển, đồng thời tăng nguồn thu ngân sách.
Chuyên gia cũng cho rằng thị trường carbon là dư địa rất lớn, đặc biệt đối với các địa phương có diện tích rừng lớn. Cùng với đó, việc tháo gỡ khoảng 3.000 dự án đang vướng mắc với quy mô vốn lên tới hàng triệu tỷ đồng sẽ góp phần giải phóng nguồn lực đáng kể cho nền kinh tế. Các giải pháp như đẩy nhanh hoàn thuế VAT, thu hút kiều hối, phát triển du lịch và mở rộng các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản (REITs) cũng sẽ góp phần đa dạng hóa nguồn vốn.
Hoàn thiện thể chế để phát triển thị trường vốn bền vững
Để phát triển thị trường vốn đồng bộ và an toàn, TS Cấn Văn Lực đề xuất tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, trong đó sớm ban hành Luật Tập đoàn tài chính và sửa đổi các luật liên quan như Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Chứng khoán nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cũng cần được triển khai nhanh hơn ở nhiều lĩnh vực, không chỉ trong ngành ngân hàng. Đồng thời, Việt Nam cần phát triển cân bằng thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp, đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ mở, quỹ đóng, quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ tín thác bất động sản để giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Bên cạnh đó, cần tăng cường quản trị rủi ro liên thông giữa các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và bất động sản; đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán nhằm thu hút dòng vốn quốc tế; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát để củng cố niềm tin của nhà đầu tư.
TS Cấn Văn Lực cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hạ tầng dữ liệu tài chính minh bạch phục vụ công tác định giá và quản trị rủi ro, đồng thời nâng cao chất lượng nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân, nhằm hạn chế tâm lý đám đông và việc sử dụng đòn bẩy tài chính quá mức.
"Để thị trường tài chính phát triển bền vững trong dài hạn cần dựa trên ba trụ cột: thể chế đáng tin cậy, thông tin - dữ liệu minh bạch và kỷ luật thị trường", chuyên gia nêu.













