Khuyến học bằng tinh thần ở triều Lê Trung hưng
Triều Lê Trung hưng, còn gọi là triều Lê - Trịnh (1533-1789) là vương triều tạo lập được chế độ khuyến học bằng tinh thần rất phong phú và đa dạng.

Cụm bia đá tại chùa Keo Hành Thiện, xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình gồm ba tấm còn nguyên vẹn, mang niên đại Hoằng Định 13 (1613), Cảnh Trị 9 (1671) và Chính Hòa 25 (1704). Ảnh: TTXVN
Trong bước đi ban đầu khi mới trung hưng, vương triều này đã nhanh chóng tiếp nối hoạt động khuyến học bằng tinh thần của triều Lê sơ bằng cách mở lại khoa thi Tiến sĩ để thu hút nhân tài bổ dụng vào cơ quan nhà nước.
Đó là năm 1554, dù đang đóng căn cứ ở vùng núi Thanh Hóa nhưng đã cho mở khoa thi đầu tiên của bản triều ở hành cung Yên Trường, gọi là Chế khoa. Các khoa thi Chế khoa sau đó còn được mở vào năm 1565 và 1577. Từ năm 1580 trở về sau, về cơ bản cứ ba năm triều Lê Trung hưng mở một khoa thi Tiến sĩ, tổng cộng gồm 72 khoa, lấy đỗ 774 vị.
Việc tạo bia đề danh Tiến sĩ dựng trước nhà Thái học ở Văn miếu - Quốc Tử Giám Thăng Long nhằm biểu dương nhân tài, khuyến khích việc học cũng được triều Lê Trung hưng coi trọng.
Tuy chưa kịp dựng bia ngay trong năm mở khoa thi Tiến sĩ nhưng về đại thể triều đại này đã tổ chức thành hai đợt dựng bia chính: đợt đầu vào năm 1653, dựng 25 bia; đợt hai vào năm 1717, dựng 21 bia. 22 bia của 22 khoa thi còn lại thường được dựng ngay trong năm mở khoa thi hoặc cách năm mở khoa thi khoảng vài năm.
Có 5 bia hiện chưa rõ đã dựng hay đã bị mất, gồm khoa thi năm 1634, 1781, 1785 và 1787 (riêng năm1787 có hai đợt thi Hội: đợt đầu thi Chế khoa, tổ chức vào tháng 1, lấy đỗ 2 người; đợt hai thi Tiến sĩ, tổ chức vào tháng 11, lấy đỗ 11 người.
Nếu dựng bia thì năm này có 2 bia, tương ứng với hai đợt thi Hội). Mục đích dựng bia của 68 văn bia hiện còn của triều Lê Trung hưng cũng giống như ở triều Lê sơ là giúp: "Các sinh viên khăn đóng áo cài ngày sau chú mục vào bia này, mắt xem miệng đọc ai là chẳng cảm kích hứng khởi, lấy khoa mục mà đặt kỳ vọng cho mình, tự lấy giúp vua ơn dân làm trách nhiệm, nối nhau mà giúp rập cho quốc gia muôn vạn năm thái bình thịnh trị".
Đồng thời với việc dựng bia đề danh Tiến sĩ, triều Lê Trung hưng tổ chức truy phong cho một số vị Tiến sĩ thời Lê sơ do lòng trung thành của họ với bản triều, nhằm cổ vũ tinh thần trung quân, hy sinh vì nghĩa cả cho nho sĩ đương thời.
Đây cũng là điểm khác biệt trong hoạt động khuyến học bằng tinh thần của vương triều này. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép vào năm 1666: "Trước kia, họ Mạc tiếm quyền, giết vua, [vua] Chiêu Tông nhà Lê phải bỏ kinh thành chạy ra ngoài, bấy giờ bầy tôi nhiều người tử tiết. Nay Tham tụng Phạm Công Trứ kiến nghị xin tuyên dương những người ấy và lựa chọn bổ dụng con cháu của họ".
Theo đó có Vũ Duệ, Ngô Hoán, Nguyễn Mẫn Đốc, Nguyễn Thiệu Tri, Đàm Thận Huy, Lê Tuấn Mậu, Nguyễn Duy Tường, Nguyễn Tự Cường được ban sắc phong hạng Thượng đẳng thần; Lê Vô Cương, Nguyễn Hữu Nghiêm, Lại Kim Bảng, Nguyễn Thái Bạt, Nghiêm Bá Kỳ được ban sắc phong hạng Trung đẳng thần. Tất cả họ đều được dựng từ đường ở quê để thờ cúng theo lệ thờ bách thần.
Điều đáng chú ý trong hoạt động khuyến học bằng tinh thần ở triều Lê Trung hưng là triều đình tổ chức cho các vị đỗ đại khoa về trí sĩ ở tuổi 70 rất long trọng, không thua kém so với lễ vinh quy bái tổ đang cử hành đương thời.
Chẳng hạn như Hồ Phi Tích, người xã Hoàn Hậu huyện Quỳnh Lưu (nay là xã Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An), đỗ Hoàng giáp khoa Canh Thìn, niên hiệu Chính Hòa thứ 21 (1700), làm quan đến chức Thượng thư bộ Hình, tước Quỳnh Quận công: "Trước khi về quê [về hưu], các quan trong triều đến tiễn biệt [...]. Ngựa xe tấp nập, mũ lọng vòng trong vòng ngoài, bày soạn cỗ bàn ăn uống, ca hát vui vầy, quả là nghi thức long trọng tôn kính người già. Ngày lên đường về, cờ xí nghi thức đón rước kể hàng nghìn, thân hào phụ lão đến chúc mừng có đến hàng vạn, dân chúng đi xem đông nghịt đứng chật đường chật bãi, cũng là nghi thức tốt đẹp đối với người được vẻ vang về làng".
Các vị khác như Nguyễn Hoàn, người xã Lan Khê huyện Nông Cống (nay là xã An Nông tỉnh Thanh Hóa), đỗ Tiến sĩ khoa Quý Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 4 (1743), làm quan đến chức Tham tụng kiêm Quốc sử Tổng tài, ngày về hưu cũng tương tự, được triều đình: "Cho đặt tiệc tiễn tại nơi ở. Triều thần hội tiễn. Chúa sai trung sứ đến trông coi, sai quan thưởng cho một cỗ xe côn, 2 lá cờ to, viết 6 chữ lớn "Đặc tứ Tiến sĩ vinh hương" (Đặc biệt ban cho Tiến sĩ vinh hiển về quê). Lại ban cho áo gấm, áo da, khăn vuông, mỗi thứ một chiếc, ngựa voi mỗi thứ một con. Cho 2 hiệu binh thuyển Hải Mã đưa về quê".

Văn bia ghi sự kiện ông Nguyễn Sủng được tiến triều.
Bên cạnh đó, triều đình tiếp tục duy trì chế độ tập ấp có từ thời Lê Thánh Tông. Chế độ này dành riêng cho những viên quan xuất thân từ khoa trường có phẩm hàm từ tứ phẩm trở lên thì ông, bà, cha, mẹ và con cháu của họ được vinh phong tước hiệu và lĩnh chức quan nhỏ.
Tức nhờ họ mà đời trước được vẻ vang, đời sau được dự vào hàng quan viên tử, quan viên tôn, không phải chịu phu phen, tạp dịch mà còn được vào học ở trường Tú lâm cục hoặc Quốc Tử Giám để đợi ra làm quan với nhiều ưu đãi lớn.
Riêng những Tiến sĩ làm quan giữ trọng trách trong triều, nếu con đỗ Hương cống thì được bảo cử, tiến triều, nhận chức vụ tương ứng so với người mới đỗ Tiến sĩ. Trường hợp của Nguyễn Nghi là ví dụ: ông người xã Vân Điềm huyện Đông Ngàn (nay là thôn Vân Điềm xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội), đỗ Tiến sĩ khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Hoằng Định thứ 20 (1619), từng làm Phó sứ đi sứ sang nhà Minh nộp cống hằng năm cho nước ta.
Năm 1645, ông được thăng chức Thượng thư bộ Lễ, gia phong Thiếu bảo, tước Dương Quận công. Sau giữ chức Tri kinh diên kiêm Đông các đại học sĩ, Tế tửu Quốc Tử Giám, rồi được thăng Thượng thư bộ Lại, Tham tụng trong phủ Chúa.
Con ông là Nguyễn Sủng trúng Hương cống, tức Nho sinh trúng thức được tiến triều, giữ chức Giám sát Ngự sử đạo Thái Nguyên. Nhân sự kiện này, quan viên các tổng xã trong huyện Đông Ngàn đến chúc mừng, viết một bài văn ca ngợi việc học của dòng họ ông khắc trên bia, coi đây là niềm vinh dự, tự hào của cả huyện.
Chưa dừng lại ở đó, học trò của Nguyễn Sủng cũng đến chúc mừng Thầy, ghi thành một bài văn khác, khắc trên bia, trong đó nêu bật thành tựu khoa bảng của dòng họ Nguyễn nơi đây với nhiều người đỗ đạt, làm quan, không ngoài mục đích nhằm khuyến học bằng tinh thần cho người đương thời. Hai văn bia này hiện còn lưu trữ tại đình thôn Vân Điềm xã Thư Lâm, thành phố Hà Nội.
Như vậy, có thể nói hoạt động khuyến học bằng tinh thần ở triều Lê Trung hưng đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo nhân tài cho đất nước, trong đó chỉ riêng người đỗ Tiến sĩ đã có 774 vị. Họ là những nhà chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa, giáo dục..., góp phần xây dựng quốc gia Đại Việt ở giai đoạn này được vững mạnh.











