Khuyến học bằng tinh thần ở triều Nguyễn

Triều Nguyễn (1802-1945) có hoạt động khuyến học bằng tinh thần được xem là toàn diện nhất ở nước ta thời quân chủ. Để đạt được thành tựu này, một mặt triều Nguyễn tiếp thu những kinh nghiệm khuyến học do các vương triều trước tạo dựng, mặt khác là sự sáng tạo các hình thức mới áp dụng cho hoạt động khuyến học của bản triều.

Cảnh sĩ tử lều chõng đi thi ở thời nhà Nguyễn. Nguồn: Bảo tàng lịch sử VN

Cảnh sĩ tử lều chõng đi thi ở thời nhà Nguyễn. Nguồn: Bảo tàng lịch sử VN

Bước đầu là xây dựng Văn miếu lấy làm nơi thờ các vị Tiên triết, Tiên hiền của Nho giáo, những người có công khai mở việc học được triều Nguyễn coi trọng. Đó là Văn miếu Huế với tiền thân là Văn miếu Phú Xuân, đặt tại làng Triều Sơn, hiện chưa rõ năm dựng. 

Đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), vào năm 1692, cho trùng tu. Trải đến năm 1770, chúa Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777) tiếp tục cho di dời đến dựng tại xã Long Hồ. Năm 1808, vua Gia Long (1802-1819) thấy Văn miếu này nhỏ hẹp, nên chọn đất ở xã An Ninh dựng thành Văn miếu mới, trở thành Văn miếu cấp quốc gia của triều Nguyễn.

Bản thân vua Gia Long rất quan tâm đến việc học, ông xuống chiếu nói rằng: "Nhà nước cần nhân tài, tất do đường khoa mục. Tiên triều ta chế độ khoa cử đời nào cũng cử hành. Từ khi Tây Sơn nổi loạn, phép cũ hủy bỏ, sĩ khí vì đó mà bế tắc. Nay thiên hạ cả định, Nam Bắc một nhà, cầu hiền chính là việc cần kíp. Bọn học trò các ngươi đều nên dùi mài việc học để đáp lại cái ơn tôn chuộng nghề văn".

Sau một thời gian chuẩn bị, việc học tập và thi cử được khôi phục. Ở kinh đô Huế, triều đình lập trường Quốc Tử Giám lấy làm nơi đào tạo nhân tài cấp cao cho nhà nước, còn tại các phủ, huyện và tổng đều có trường học nhằm đào tạo nhân tài cho địa phương. 

Đến năm 1807, triều Nguyễn bắt đầu cho mở thi Hương, tổ chức tại 6 trường thi, gồm Nghệ An, Thanh Hoa, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây và Sơn Nam, lấy đỗ tổng cộng 61 Hương cống.

Khi số đỗ Hương cống ngày một nhiều, triều đình bắt đầu cho mở thi Hội và thi Đình vào năm 1822, nhằm khuyến khích nhân tài có học vị cao hơn. Thi Hội năm đó lấy đỗ 8 Tiến sĩ, khi thi Đình, vua ban học vị Hoàng giáp cho 1 vị, 7 vị còn lại nhận học vị Tiến sĩ. Cũng từ đây trở đi, triều Nguyễn thường xuyên cho mở các kỳ thi Hội và thi Đình, với định kỳ thường là 3 năm mở một lần.

Song song với các khoa thi có tính chất định kỳ, triều đình cũng mở các khoa thi mang tên là Chế khoa, Ân khoa hoặc Nhã sĩ vào các dịp vua đăng quang hoặc thượng thọ. 

Các khoa thi này không ngoài mục đích là để khuyến khích, thu phục nhân tài trong nước không bị bỏ sót. Năm 1828, triều đình cho thay đổi tên gọi học vị, quy định người đỗ tứ trường thi Hương (trúng cách) gọi là Cử nhân (thời Lê Trung hưng và thời Mạc gọi là Hương cống), đỗ tam trường gọi là Tú tài (thời Lê Trung hưng và thời Mạc gọi là Sinh đồ). 

Năm sau 1829, lại đặt thêm học vị Phó bảng (xếp dưới học vị Tiến sĩ), đều là để khuyến khích sĩ tử ganh đua trong học tập, giành học vị chính thống và cao hơn trong các kỳ thi do nhà nước tổ chức.

Tiếp đến triều Nguyễn cho khắc bia đề danh Tiến sĩ tại Văn miếu Huế dùng biểu dương nhân tài, khích lệ tinh thần học tập cho sĩ tử đương thời cũng như về sau. Đây là sự mô phỏng theo thể chế dựng bia đề danh Tiến sĩ của triều Lê và triều Mạc, với loạt dựng đầu tiên tổ chức vào năm 1831, bằng cách cho truy dựng 3 bia của 3 khoa thi Hội đầu tiên của bản triều, là Nhâm Ngọ, Minh Mệnh thứ 2 (1822), Bính Tuất, Minh Mệnh thứ 7 (1826) và Kỷ Sửu, Minh Mệnh thứ 10 (1829), mỗi khoa thi dựng thành 1 bia. 

Từ khoa thi năm Nhâm Thìn, niên hiệu Minh Mệnh thứ 13 (1832) về sau, triều đình tổ chức dựng bia ngay trong năm mở khoa thi Tiến sĩ. Các khoa thi Hội tổ chức trong niên hiệu Tự Đức (1848-1883) và Thành Thái (1889-1907) thường khắc gộp 2 hoặc 3 khoa thi Tiến sĩ vào một bia. Tổng cộng là 32 bia, trong đó có 27 bia, mỗi bia khắc riêng một khoa thi; 3 bia khắc gộp 2 khoa thi; 2 bia khắc gộp 3 khoa thi. 

Ghi họ tên, quê quán, học vị, mức đỗ của 293 vị đỗ Tiến sĩ thuộc bản triều. Riêng người đỗ Phó bảng không được khắc vào bia là điều đặc biệt, cho dù họ là người đỗ đại khoa. Đây chính là cách dùng khích lệ tinh thần cho sĩ tử để họ phấn đấu giành học vị cao hơn.

Một phương thức khác để lưu danh người đỗ khoa bảng triều Nguyễn là biên soạn sách Đăng khoa lục cũng được triều đình coi trọng. Nhưng điểm mới ở chỗ, ngoài Đăng khoa lục ghi tên người đỗ đại khoa theo truyền thống, triều Nguyễn còn cho biên soạn sách ghi về người đỗ trung khoa của bản triều là điều các vương triều trước đó chưa có tiền lệ. 

Đó là bộ Quốc triều hương khoa lục, do Cao Xuân Dục thực hiện, khắc mộc bản, ghi họ tên, quê quán, chức quan của 5.236 Cử nhân đỗ trong 47 khoa thi, tính từ năm 1807 đến năm 1818 của triều Nguyễn.

Sau cùng là vinh dự dành cho người đỗ khoa bảng thể hiện ở việc vinh quy bái tổ. Hoạt động này được triều Nguyễn đặc biệt coi trọng. Nếu thời Trần, vào năm 1304, người đỗ Tiến sĩ được triều đình cho 3 người đỗ đầu ở hạng Đệ nhất giáp (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa lang) đi dạo, ngắm phố phường Thăng Long trong 3 ngày thì đến thời Lê sơ, vào năm 1442, tất cả người đỗ Tiến sĩ trong một khoa thi đều được cấp ngựa tốt và lính hầu đưa về quê. 

Đến triều Nguyễn, chỉ cần đỗ trung khoa là được khích lệ cao độ bằng tinh thần. Theo đó, từ năm 1817, người đỗ Hương cống ngay sau khi treo bảng ở kỳ đệ tứ được quan trường ở Thí viện ban cho mỗi người 1 chiếc mũ, phía trước phía sau gắn một bông hoa bằng bạc, 1 chiếc võng cân, 1 chiếc áo khép vạt may bằng vải xanh, 1 chiếc khánh, 1 chiếc quần, 1 đôi giày và 1 đôi tất.

Ăn yến được tổ chức ngay từ thời vua Gia Long, gọi là Yến Lộc Minh. Cũng có khi triều đình thay ăn yến bằng cấp bạc, như vào năm 1821 và 1841. Đến năm 1850, ăn yến được tổ chức ở nhà Thí viện và coi là lệ thường.

Đối với người đỗ đại khoa thì ân điển càng lớn, do triều đình quy định từ năm 1822, người đỗ Tiến sĩ được truyền lô xướng danh, treo bảng ở lầu Phu Văn trong 3 ngày. 

Ngày ăn yến, mỗi Tiến sĩ được ban 1 cái trâm và 1 cái hoa bạc. Ai có học vị cao hơn, như Bảng nhãn và Thám hoa được cấp thêm 1 chiếc trâm và hoa bằng bạc mạ vàng, cho cưỡi ngựa vinh quy. Đến năm 1831, tất cả người đỗ Tiến sĩ trong kỳ thi Hội, trừ Phó bảng, đều được cưỡi ngựa vinh quy. Khi đó mỗi vị được cấp 1 lá cờ ghi học vị cùng 1 biển gỗ sơn son, có cán dài, khắc 4 chữ "Ân tứ vinh quy" (Ơn ban cho vinh quy) cầm đi đường cho thiên hạ chiêm ngưỡng. Từ đó tác động đến tâm lý mọi người, nhất là học sinh, khiến họ phấn chấn mà dấn thân vào con đường học tập và khoa cử, trở thành những nhân tài cho đất nước.

*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long

TS Nguyễn Hữu Mùi*

Nguồn Công dân & Khuyến học: https://congdankhuyenhoc.vn/khuyen-hoc-bang-tinh-than-o-trieu-nguyen-179260812134509139.htm