Kiểm soát khí thải phương tiện: Cần tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp

Trong bối cảnh ô nhiễm không khí không ngừng gia tăng tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, việc kiểm soát chặt chẽ khí thải phương tiện giao thông đường bộ theo Quyết định số 43-QĐ/TTg ngày 28-11-2025 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 92/2025/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là yêu cầu khách quan, hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường và sức khỏe nhân dân. Tuy nhiên, để chính sách này đi vào cuộc sống, tạo được sự đồng thuận rộng rãi trong nhân dân, cần triển khai lộ trình phù hợp và giải pháp đồng bộ.

Vì sao phải kiểm soát khí thải?

Những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa nhanh kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ của phương tiện giao thông cá nhân, đặc biệt tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Theo thống kê mới nhất của Sở Xây dựng TP Hà Nội, thành phố hiện có gần 1,5 triệu ô tô (cùng với hơn 8 triệu xe gắn máy thường xuyên hoạt động), gây ra 94% lượng hydrocarbon, 87% khí CO, 57% NOx và 33% bụi mịn PM10 từ giao thông. Kết quả quan trắc cho thấy ô nhiễm không khí tại Hà Nội những năm gần đây chưa có dấu hiệu giảm rõ rệt, thời gian ô nhiễm kéo dài cả về số giờ và số ngày, đặc biệt trong giai đoạn từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, đặt ra yêu cầu cấp thiết về phối hợp liên vùng trong kiểm soát ô nhiễm không khí... Trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, số lượng phương tiện tham gia giao thông còn lớn hơn với khoảng 14 triệu; Trong đó, ô tô khoảng 2 triệu; mô tô, xe máy khoảng 12 triệu, đa phần là phương tiện đã qua nhiều năm sử dụng.

Giờ cao điểm tại nút giao giữa cầu Chương Dương và đường Nguyễn Văn Cừ, Hà Nội. Ảnh: HỒNG SÁNG

Giờ cao điểm tại nút giao giữa cầu Chương Dương và đường Nguyễn Văn Cừ, Hà Nội. Ảnh: HỒNG SÁNG

Theo đồng chí Nguyễn Tô An, Phó cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam (Bộ Xây dựng), thực trạng xe cũ, xuống cấp kỹ thuật cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng phát thải khí độc hại. Nhiều phương tiện không được bảo dưỡng định kỳ, hệ thống động cơ, nhiên liệu không bảo đảm tiêu chuẩn dẫn tới mức phát thải cao vượt ngưỡng cho phép. Đây là nguồn phát thải khó kiểm soát nếu không có cơ chế quản lý chặt chẽ...

Không chỉ tác động đến sức khỏe, ô nhiễm không khí còn gây ra những hệ lụy kinh tế-xã hội đáng kể: Chi phí y tế tăng cao, năng suất lao động suy giảm, chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng... Trong bối cảnh đó, việc kiểm soát chặt chẽ khí thải không còn là lựa chọn mang tính khuyến nghị mà là yêu cầu khách quan, xuất phát từ thực tiễn phát triển và đòi hỏi bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Theo đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, Phó vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, Môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), trước thực trạng ô nhiễm không khí, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 43/2025/QĐ-TTg quy định lộ trình áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải đối với xe ô tô lưu hành là bước đi hết sức cần thiết, thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ trong kiểm soát phát thải, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Hệ thống quy chuẩn khí thải của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tiếp thu các tiêu chuẩn quốc tế. Theo đó, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 85:2025/BNNMT chia khí thải thành 5 mức độ, tương ứng với các tiêu chuẩn Euro quốc tế. Cụ thể, mức 1 (tương đương Euro 1) với giới hạn nồng độ CO là 4,5% thể tích; mức 2 (tương đương Euro 2) với nồng độ CO giảm xuống còn 3,5%; mức 3 (tương đương Euro 3) với giới hạn CO là 3,0%; mức 4 (tương đương Euro 4) với nồng độ CO siết chặt còn 0,5%; riêng mức 5 (tương đương Euro 5) giới hạn CO tối đa chỉ 0,3%.

Đối với xe mô tô, xe gắn máy, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Thông tư số 92/2025/TT-BNNMT về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến khí thải xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ, có hiệu lực từ ngày 30-6-2026. Quy chuẩn không áp dụng đối với các loại xe mô tô, xe gắn máy thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Việc kiểm định khí thải xe gắn máy phải được thực hiện tại các cơ sở kiểm định đủ điều kiện, được chứng nhận theo quy định của pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Thiết bị đo khí thải phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy chuẩn Việt Nam. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ Xây dựng sẽ là cơ quan tổ chức thực hiện việc kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy trên phạm vi toàn quốc.

Thực tế cho thấy, việc kiểm tra khí thải phương tiện giao thông đường bộ đã được triển khai thực hiện từ năm 1999 theo Quyết định số 1397/1999/QĐ-BGTVT ngày 11-6-1999 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và liên tục được hoàn thiện qua các quy chuẩn, tiêu chuẩn mới. Điều này cho thấy, siết chặt quản lý khí thải là một quá trình có kế thừa, có lộ trình, không phải thay đổi đột ngột.

Giao thông vào giờ tan tầm tại Ngã Tư Sở, TP Hà Nội. Ảnh: HỒNG SÁNG

Giao thông vào giờ tan tầm tại Ngã Tư Sở, TP Hà Nội. Ảnh: HỒNG SÁNG

Triển khai có lộ trình, đồng bộ các giải pháp

Nhiều chuyên gia, nhà khoa học cho rằng, việc kiểm soát khí thải ô tô theo Quyết định số 43/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 92/2025/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường là chủ trương đúng đắn, cần được các doanh nghiệp vận tải, chủ phương tiện nghiêm túc thực hiện. Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, cần triển khai theo lộ trình rõ ràng, phân kỳ hợp lý, tránh gây xáo trộn đột ngột đối với người dân và doanh nghiệp.

Đồng tình với chủ trương kiểm soát khí thải theo quy định mới của Chính phủ, song GS, TS Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện Môi trường đô thị và Công nghiệp Việt Nam lưu ý yếu tố an sinh rất quan trọng, với những đối tượng thu nhập thấp mưu sinh bằng xe cơ giới, cần phải có lộ trình cho giải pháp thay thế. Vì thế, việc vận động, truyền thông để người dân tự giác kiểm định và đổi xe, đặc biệt là các hộ đã sử dụng xe từ trước năm 2006 là rất cần thiết, liên quan đến những phương tiện đã cũ và phát thải lớn, ảnh hưởng đến môi trường.

Nhận thấy số lượng phương tiện giao thông cũ, không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật đang tồn tại rất lớn, đại biểu Quốc hội khóa XVI Phạm Văn Hòa, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp đề xuất, cần phải có các cơ sở kiểm định và thiết bị đo lường hiện đại, bảo đảm tính khả thi và đồng bộ trong quá trình triển khai. Trước tiên cần tính toán cơ sở vật chất, nhân lực cho việc kiểm định. Thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở khâu kiểm định mà còn ở chính sách đối với các phương tiện không đạt chuẩn. Theo đại biểu Phạm Văn Hòa, việc thu hồi hoặc cấm lưu hành hàng triệu phương tiện giao thông cũ, phần nhiều do những người có thu nhập thấp sử dụng hằng ngày, phải đi kèm với các chính sách hỗ trợ chuyển đổi mang tính nhân văn và vĩ mô. Chính phủ cần có chính sách để chuyển đổi từ xe cơ giới có lượng phát thải lớn sang các phương tiện giao thông thân thiện với môi trường. Trong bối cảnh Việt Nam có mật độ phương tiện cá nhân cao, vấn đề này cần một lộ trình rõ ràng và dài hạn.

“Cần có lộ trình nhằm tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư máy móc, nhân lực kiểm định chất lượng xe cơ giới. Đặc biệt là kiểm định chất lượng không khí xe xăng, đòi hỏi cần có phương tiện tốt để kiểm định được, nếu máy móc không đạt chất lượng thì không đạt được hiệu quả”, đại biểu Phạm Văn Hòa, nhấn mạnh.

Kiểm định khí thải xe cơ giới không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là chính sách xã hội và môi trường mang tính chiến lược. Để thành công, cần có sự đồng bộ giữa 3 yếu tố then chốt: Hệ thống kiểm định kỹ thuật đủ khả năng; chính sách hỗ trợ chuyển đổi và thu hồi phương tiện cũ; lộ trình thực hiện hợp lý và phát triển hạ tầng giao thông công cộng tại Việt Nam.

Theo ông Phạm Văn Hòa, việc xã hội hóa sẽ giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, bởi phần lớn chi phí cho bộ máy kiểm định có thể được chia sẻ thông qua sự tham gia của doanh nghiệp và các đơn vị tư nhân. Đi đôi với chủ trương xã hội hóa, cần có cơ chế giám sát, kiểm tra và đôn đốc, nhắc nhở nhằm bảo đảm chất lượng và tính minh bạch trong hoạt động kiểm định, tránh tình trạng triển khai ồ ạt nhưng thiếu kiểm soát.

“Xã hội hóa kiểm định khí thải không chỉ giúp giảm gánh nặng ngân sách mà còn tạo điều kiện huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy phát triển giao thông xanh và bền vững. Tuy nhiên, để thành công cần có lộ trình rõ ràng, cơ chế giám sát chặt chẽ, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và sự đồng bộ trong đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực. Đây chính là nền tảng để Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu xây dựng hệ thống giao thông xanh, đô thị thông minh và phát triển bền vững”, đại biểu Quốc hội khóa XVI Phạm Văn Hòa đề xuất.

NGUYỄN HỒNG SÁNG

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/kiem-soat-khi-thai-phuong-tien-can-tao-thuan-loi-cho-nguoi-dan-va-doanh-nghiep-1032919