Kiểm toán chỉ ra hàng loạt sai phạm và hạn chế trong công tác quản lý tài chính tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước
Kiểm toán Nhà nước (KTNN) cho biết trong năm 2024, một số Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước chưa xây dựng quy chế quản lý tiền, quản lý dòng tiền chưa hiệu quả, quản lý nợ chưa chặt chẽ, còn phát sinh nợ quá hạn, khó đòi lớn...

Trụ sở KTNN - Ảnh SAV.
Qua kết quả kiểm toán cho thấy 9/9 Tập đoàn, Tổng công ty (TCT), Công ty sản xuất kinh doanh có lãi. Lợi nhuận sau thuế năm 2024 của cácTập đoàn, TCT lần lượt như sau:Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN): 33.350,98 tỷ đồng;Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA): 8.007,88 tỷ đồng;Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT): 5.318,49 tỷ đồng;Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem): 2.377,43 tỷ đồng; TCT Đông Bắc 617,10 tỷ đồng; Tổng công ty Thép Việt Nam (Vnsteel): 337,84 tỷ đồng; Vietlott 283,06 tỷ đồng;Tổng Công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai (Dofico): 228,85 tỷ đồng;Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội (Hancorp): 60,80 tỷ đồng.
Trong đó có 2 doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu cao trên 30% làVietlott 49,3% và TCT Đông Bắc 31,37%.
Theo KTNN, phần lớn các đơn vị còn sai sót trong công tác hạch toán, kê khai nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Cùng với đó, KTNN cũng chỉ ranhững sai phạm và hạn chế trong công tác quản lý tài chính tại nhiều tập đoàn và tổng công ty nhà nước lớn. Các đơn vị như PVN , Vnsteel, Vinachem và VNA đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt quy chế kiểm soát tiền mặt, quản lý dòng tiền rời rạc và để phát sinh nợ khó đòi.
Kiểm toán cũng chỉ ra các khoản nợ khó đòi của các Tập đoàn, TCT như PVN: Công ty mẹ - Tập đoàn 22.965,46 tỷ đồng; PVGAS: Công ty mẹ 5.952,23 tỷ đồng, Công ty CP Phân phối Khí Thấp áp Dầu khí Việt Nam 26,79 tỷ đồng; Công ty mẹ - TCT CP Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí 32,61 tỷ đồng; PVFCCo 384,20 tỷ đồng. Với Vinachem là 10.107,13 tỷ đồng, chiếm 53,04% nợ phải thu. Vnsteel: Công ty CP Gang thép Thái Nguyên 553,07 tỷ đồng; Công ty CP Kim khí TP. Hồ Chí Minh - Vnsteel 58,84 tỷ đồng; Công ty CP Kim khí Hà Nội - Vnsteel 45,06 tỷ đồng; Công ty TNHH MTV Thép miền Nam - Vnsteel 11,38 tỷ đồng; Công ty CP Giao nhận Kho vận Ngoại thương Việt Nam 4,35 tỷ đồng. Đối với VNPT: Công ty mẹ - Tập đoàn 160,59 tỷ đồng. Với Vinaphone 472,84 tỷ đồng. Các khoản khó đòi với VNA: Công ty mẹ 375,94 tỷ đồng; Công ty TNHH MTV Nhiên liệu hàng không Việt Nam 1.091,68 tỷ đồng; Công ty TNHH MTV Kỹ thuật máy bay 200,68 tỷ đồng; Công ty TNHH MTV Dịch vụ mặt đất sân bay Việt Nam 31,94 tỷ đồng. Cuối cùng là TCT Đông Bắc với khoản khó đòi của Văn phòng Tổng công ty là 82,68 tỷ đồng...
Cũng theo KTNN, tình trạng vật tư tồn kho lâu ngày, kém phẩm chất và chậm luân chuyển diễn ra tại nhiều doanh nghiệp với giá trị tồn đọng lớn. Đáng chú ý nhất là tại PVN (Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn ghi nhận 855,99 tỷ đồng), VNA (Công ty mẹ 237,64 tỷ đồng), Vinachem (Công ty CP Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc 92,35 tỷ đồng)...
Lượng hàng tồn kho trong lĩnh vực xây lắp, bất động sản chiếm tỷ trọng cao. Điển hình tại Hancorp, ghi nhận tồn kho lên tới 698,81 tỷ đồng ở Công ty mẹ, 357,64 tỷ đồng tại Công ty CP Xây dựng số 1 Hà Nội và 50,07 tỷ đồng tại Công ty CP Đầu tư thương mại Hancorp 1.
Ngoài ra, hệ thống quy định quản lý hàng hóa, vật tư, công cụ dụng cụ chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ. Nhiều đơn vị trực thuộc Vinachem (như DAP Vinachem, Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, Phân lân Ninh Bình), Vnsteel (Kim khí TP. Hồ Chí Minh) và VNPT chưa xây dựng quy định quản lý vật tư gắn với trách nhiệm của từng cá nhân hay đơn vị, chưa quy định quản lý kho gửi hàng hoặc chậm trễ trong việc sửa đổi quy định quyết toán, ứng vật tư.
Cũng theo KTNN, công tác kiểm kê hàng tồn kho và vật tư còn lỏng lẻo, thực hiện chưa đúng quy định tại một số đơn vị. Cụ thể, PVPOWER Hà Tĩnh (thuộc PVN) chưa kiểm kê, theo dõi lượng tro bay, xỉ tại bãi chứa; Công ty CP Đầu tư thương mại Hancorp 1 không tiến hành kiểm kê, đánh giá hàng tồn kho cuối kỳ của các công trình xây lắp; trong khi Công ty CP Kim khí TP. Hồ Chí Minh (thuộc Vnsteel) lại tổ chức kiểm kê hàng tồn kho thiếu thành phần tham gia theo quy định.
Một điểm hạn chế nữa cũng được KTNN chỉ ra là việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho thiếu chính xác, dẫn đến tình trạng trích thừa dự phòng tại PVN (48,43 tỷ đồng), Vnsteel (6,54 tỷ đồng), VNA (2,91 tỷ đồng) và Vinachem (2,28 tỷ đồng).











