KIẾN TẠO NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN MỚI

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy, từ giải phóng nguồn lực sang kiến tạo năng lực phát triển mới. Trong quá trình đó, cải cách thể chế, nâng cao năng lực thực thi, đổi mới phương thức quản trị là những khâu có ý nghĩa quyết định.

Đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế-xã hội ở nước ta trở nên trầm trọng, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Trước tình hình đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI diễn ra vào tháng 12 năm 1986 đã khởi xướng, Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo và thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước, trong đó tập trung vào đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; đổi mới cơ cấu kinh tế; đổi mới chính sách đối ngoại, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Bốn mươi năm Đổi mới đã tạo nên nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử, đồng thời hình thành những năng lực phát triển mới của đất nước. Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy, từ giải phóng nguồn lực sang kiến tạo năng lực, từ tăng trưởng dựa nhiều vào nguồn lực sang tăng trưởng dựa nhiều vào năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực nội sinh. Trong quá trình đó, cải cách thể chế, nâng cao năng lực thực thi, đổi mới phương thức quản trị là những khâu có ý nghĩa quyết định.

Thành tựu 40 năm Đổi mới: Từ giải phóng nguồn lực đến hình thành năng lực phát triển mới

Nhìn lại 40 năm Đổi mới, điều nổi bật nhất không chỉ là quy mô nền kinh tế tăng lên nhiều lần, mà năng lực phát triển của đất nước đã thay đổi căn bản.

Từ một nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường; từ khép kín sang mở cửa, hội nhập; từ phân bổ nguồn lực bằng mệnh lệnh hành chính sang phát huy mạnh hơn vai trò của thị trường; từ nền kinh tế có ít chủ thể sản xuất, kinh doanh sang nền kinh tế với cộng đồng doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, cùng hàng triệu hộ kinh doanh tạo ra của cải, việc làm và thu nhập. Những thay đổi đó đã giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, mở ra không gian phát triển rộng lớn cho đất nước.

Sau 40 năm, quy mô GDP của nền kinh tế đã vượt 500 tỷ USD, GDP bình quân đầu người vượt 5.000 USD. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước nghèo, trở thành nền kinh tế có thu nhập trung bình cao. Hàng chục triệu người thoát nghèo; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản, giáo dục, y tế, hạ tầng và các cơ hội phát triển được mở rộng.

Kinh tế nước ta đã trở thành một bộ phận quan trọng của kinh tế thế giới. Thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng mạnh mẽ. Khu vực doanh nghiệp trong nước từng bước trưởng thành. Khu vực đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ và kết nối nền kinh tế với các chuỗi giá trị toàn cầu.

Đặc biệt, kinh tế nước ta đã hình thành những năng lực mà 40 năm trước còn rất hạn chế. Đó là năng lực huy động và kết nối các nguồn lực trong nước với quốc tế; năng lực sản xuất với quy mô ngày càng lớn; năng lực hội nhập; năng lực của cộng đồng doanh nghiệp; năng lực tiếp nhận và từng bước làm chủ công nghệ; năng lực quản trị nền kinh tế thị trường. Quan trọng hơn cả là năng lực tự đổi mới, tự thích ứng của đất nước.

Từ một nền kinh tế phải đối mặt với những khó khăn gay gắt về lương thực và đời sống, Việt Nam trở thành nền kinh tế có độ mở cao, tham gia sâu vào thương mại, đầu tư và các chuỗi giá trị toàn cầu. Từ chỗ thiếu hụt nhiều nguồn lực, kinh tế nước ta có khả năng huy động, kết nối và sử dụng ngày càng hiệu quả hơn các nguồn lực trong nước và quốc tế để hình thành năng lực sản xuất mới.

Có thể nhìn nhận 40 năm Đổi mới như một quá trình chuyển đổi từ thiếu nguồn lực sang biết huy động nguồn lực; từ khép kín sang kết nối; từ quản lý trực tiếp sang phát huy vai trò của thị trường; từ tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng nguồn lực sang từng bước chú trọng hơn đến năng suất và hiệu quả.

Thiết nghĩ, bốn mươi năm Đổi mới chính là chặng đường kiến tạo năng lực phát triển quốc gia. Trong quá trình đó, vai trò của Chính phủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chính phủ không trực tiếp tạo ra của cải vật chất của nền kinh tế, nhưng có vai trò quyết định trong việc kiến tạo thể chế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kết cấu hạ tầng, mở rộng hội nhập, tổ chức thực thi chính sách và tạo môi trường để người dân, doanh nghiệp phát huy năng lực, qua đó hình thành và nâng cao năng lực phát triển của nền kinh tế.

Một trong những thành tựu lớn nhất của Đổi mới đó là năng lực tự thay đổi của đất nước. Đảng và Nhà nước đã nhiều lần điều chỉnh tư duy, thể chế và phương thức quản lý để thích ứng với những yêu cầu mới của phát triển. Đây chính là nền tảng quan trọng để đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới.

Bên cạnh những thành tựu, kinh tế nước ta đang đối mặt với những hạn chế. Năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng; năng lực tự chủ còn hạn chế; khu vực doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng. Đây chính là những vấn đề cần phải tập trung giải quyết trong chặng đường phát triển tiếp theo.

Bài học kinh nghiệm: Thể chế mở đường, nguồn lực tạo động lực, năng lực tạo tăng trưởng

Nhìn toàn bộ quá trình 40 năm Đổi mới, có thể nhận thấy một logic phát triển xuyên suốt: cải cách thể chế đã mở đường cho phát triển; đổi mới thể chế đã tạo điều kiện giải phóng các nguồn lực của đất nước và sức sáng tạo của người dân, doanh nghiệp; giải phóng các nguồn lực đã hình thành những động lực tăng trưởng mới; các động lực tăng trưởng thúc đẩy và không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, năng lực doanh nghiệp, năng lực hội nhập của nền kinh tế; năng lực được nâng cao tạo nền tảng để cải thiện năng suất và chất lượng tăng trưởng.

Chính sự vận động liên tục từ thể chế đến nguồn lực, từ nguồn lực đến động lực, từ động lực đến năng lực và từ năng lực đến tăng trưởng đã tạo nên sức sống và những thành tựu nổi bật của nền kinh tế Việt Nam trong 40 năm Đổi mới.

Nhìn vào chuỗi logic vận động đó có thể thấy, sức sống của Đổi mới không chỉ đến từ việc tháo gỡ những rào cản, mà trước hết đến từ khả năng nhận diện đúng thực tiễn, tôn trọng các quy luật khách quan của kinh tế thị trường và khơi thông sức sáng tạo của toàn xã hội.

Từ thực tiễn 40 năm Đổi mới, có thể khẳng định những thành tựu đạt được không phải là kết quả của một chính sách đơn lẻ, mà là kết quả của một phương thức phát triển biết bắt đúng thực tiễn, khơi thông nguồn lực, tạo lập động lực và từng bước nâng cao năng lực của nền kinh tế.

Chính phương thức đó đã hình thành những bài học có giá trị lâu dài, không chỉ để nhìn lại chặng đường 40 năm mà quan trọng hơn, để soi chiếu vào những lựa chọn phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Bài học đầu tiên và sâu sắc nhất đó là đổi mới phải bắt đầu từ thực tiễn, tôn trọng quy luật kinh tế thị trường và phát huy sức sáng tạo của người dân, doanh nghiệp.

Khi quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh được mở rộng, những nguồn lực từng bị trói buộc bởi cơ chế được giải phóng. Khi các thành phần kinh tế được thừa nhận và tạo điều kiện phát triển, sức sản xuất của toàn xã hội được khơi thông. Khi thị trường ngày càng giữ vai trò quan trọng hơn trong phân bổ nguồn lực, các chủ thể kinh tế có thêm động lực đầu tư, sản xuất và đổi mới sáng tạo.

Bài học thứ hai là cải cách thể chế phải gắn với mở cửa và hội nhập. Việt Nam không chỉ đổi mới bên trong mà đồng thời mở rộng không gian phát triển ra bên ngoài.

Hội nhập đem lại thị trường, vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, đồng thời tạo ra áp lực cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệp và nền kinh tế phải đổi mới.

Bài học thứ ba: ổn định kinh tế vĩ mô là nền tảng của phát triển dài hạn. Tăng trưởng nhanh nhưng thiếu ổn định sẽ không tạo được nền tảng bền vững. Giữ vững các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn tài chính, tiền tệ và củng cố niềm tin của thị trường vì thế luôn là nội dung quan trọng trong điều hành của Chính phủ.

Bài học thứ tư là chính sách phải xuất phát từ thực tiễn, được kiểm nghiệm bằng kết quả thực tiễn. Chính sách tốt không chỉ được đánh giá bởi sự hợp lý của văn bản, mà phải được đánh giá bằng khả năng giải phóng nguồn lực, giảm chi phí, tạo động lực đầu tư, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, cải thiện đời sống của người dân.

Những bài học trên cho thấy thành công của Đổi mới gắn liền với thay đổi vai trò của Nhà nước. Từ chỗ trực tiếp quản lý và phân bổ phần lớn nguồn lực của nền kinh tế, Nhà nước từng bước chuyển sang kiến tạo thể chế, bảo đảm ổn định, cung cấp dịch vụ công, tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể kinh tế phát triển. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bước sang trình độ phát triển cao hơn, vai trò của Nhà nước cần tiếp tục đổi mới.

Ba thế hệ cải cách thể chế và bước chuyển sang kiến tạo năng lực

Yếu tố xuyên suốt tạo nên thành công của 40 năm Đổi mới chính là cải cách thể chế.

Thể chế không trực tiếp tạo ra GDP, nhưng thể chế quyết định phương thức huy động và phân bổ nguồn lực. Thể chế là yếu tố quyết định người dân và doanh nghiệp có động lực đầu tư và sáng tạo đến đâu, nền kinh tế có khả năng chuyển hóa nguồn lực thành năng suất như thế nào.

Nhìn lại quá trình Đổi mới, có thể thấy cải cách thể chế đã đi qua ba thế hệ.

Thế hệ thứ nhất cải cách để giải phóng nguồn lực. Trọng tâm của giai đoạn này là tháo bỏ những ràng buộc của cơ chế cũ, mở rộng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, thừa nhận các thành phần kinh tế và tạo điều kiện để các nguồn lực xã hội được vận động. Khi những rào cản được tháo gỡ, sức sản xuất được giải phóng, những động lực tăng trưởng mới được hình thành.

Thế hệ thứ haicải cách để nâng cao hiệu quả vận hành của thị trường và phân bổ nguồn lực. Khi nền kinh tế thị trường phát triển đầy đủ hơn, yêu cầu không chỉ dừng ở việc giải phóng nguồn lực mà còn phải xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ quyền tài sản, hoàn thiện các loại thị trường, nâng cao chất lượng quản trị và tăng hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực.

Hội nhập quốc tế sâu rộng cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế để nền kinh tế có thể tham gia hiệu quả hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.

Thế hệ thứ bacải cách để kiến tạo năng lực phát triển mới. Đây là yêu cầu nổi bật của giai đoạn hiện nay. Cải cách thể chế không chỉ nhằm tháo gỡ những rào cản đang tồn tại hay nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, mà phải chủ động tạo lập những điều kiện để hình thành các năng lực mới về con người, doanh nghiệp, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng, quản trị quốc gia.

Nếu cải cách thể chế của những năm đầu Đổi mới chủ yếu nhằm giải phóng những nguồn lực đang bị ràng buộc, thì cải cách của giai đoạn sau hướng tới nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, cải cách thể chế cần tiến thêm một bước, không chỉ tháo gỡ rào cản và nâng cao hiệu quả, mà phải chủ động kiến tạo những năng lực nhát triển mà nền kinh tế cần có trong tương lai. Đây chính là sự chuyển đổi từ cải cách để giải phóng nguồn lực sang cải cách để kiến tạo năng lực.

Vai trò của Chính phủ trong quá trình này đặc biệt quan trọng. Chính phủ cần tiếp tục xây dựng môi trường thể chế ổn định, minh bạch, có tính dự báo cao; đồng thời tạo lập những điều kiện nền tảng để thị trường, doanh nghiệp, khoa học công nghệ và người dân phát huy tốt hơn năng lực của mình.

Cải cách thể chế trong giai đoạn mới: Chính phủ kiến tạo năng lực phát triển

Cải cách thể chế trong các giai đoạn trước chủ yếu nhằm tháo gỡ những rào cản đang cản trở phát triển, trong giai đoạn tới, cải cách phải hướng tới tạo ra những điều kiện để các năng lực mới có thể hình thành và phát triển. Đó là sự chuyển từ tư duy quản lý những gì đang có sang kiến tạo những năng lực mới.

Chính phủ kiến tạo năng lực được hiểu là Chính phủ không chỉ tạo lập môi trường để các nguồn lực được giải phóng và thị trường vận hành hiệu quả, mà còn chủ động tạo ra những điều kiện về thể chế, hạ tầng, nhân lực, khoa học công nghệ và hệ sinh thái đổi mới để các năng lực phát triển mới của quốc gia được hình thành và lớn lên.

Trước hết, cần tiếp tục xây dựng môi trường kinh doanh có tính dự báo cao, chi phí thấp, cạnh tranh bình đẳng. Trong xu hướng phát triển hiện nay, nền kinh tế cần hệ thống thể chế minh bạch, ổn định. Trong đó người dân, doanh nghiệp biết rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm và được bảo vệ đầy đủ về quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh theo pháp luật.

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ cơ chế phân bổ nguồn lực. Nguồn lực công cần được sử dụng để tạo ra hạ tầng, công nghệ, nguồn nhân lực và những năng lực nền tảng mà thị trường không thể tạo ra đầy đủ. Hiệu quả đầu tư cần được nhìn nhận không chỉ qua tiến độ giải ngân mà qua năng lực, năng suất mới được tạo ra.

Thứ ba, kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Sáng tạo không phải là một phong trào, mà là kết quả của hệ sinh thái. Trong đó, doanh nghiệp có động lực đầu tư và thử nghiệm. Nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu, thị trường vốn có khả năng chấp nhận rủi ro. Người lao động có khả năng học hỏi và thích ứng. Thể chế cần phải đủ linh hoạt để những mô hình mới được thử nghiệm và nhân rộng.

Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong nền kinh tế tri thức và trí tuệ nhân tạo, lợi thế cạnh tranh không còn chủ yếu ở chi phí lao động mà quyết định bởi chất lượng con người, khả năng sáng tạo và năng lực sử dụng công nghệ.

Thứ năm, phải coi năng lực thực thi là năng lực phát triển quốc gia. Chính phủ hiện đại phải có khả năng thực hiện 4 rõ: đặt mục tiêu, phân công nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành, trách nhiệm giải trình. Đồng thời phải đo lường được kết quả; lấy hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp và kết quả phát triển làm thước đo quan trọng của hoạt động công vụ.

Trong kỷ nguyên Al, thể chế cần đi trước một bước. Vấn đề không chỉ nằm ở việc quản lý công nghệ mới. Quan trọng hơn là tạo lập môi trường để AI được chuyển hóa thành năng lực sản xuất mới, nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo đó, Chính phủ cần từng bước chuyển từ Chính phủ quản lý sang Chính phủ kiến tạo môi trường phát triển, tiến tới Chính phủ kiến tạo năng lực phát triển.

Năng lực thực thi: Nơi thể chế chuyển hóa thành kết quả phát triển

Yêu cầu nổi lên trong giai đoạn mới là phải nhìn nhận thể chế không chỉ qua chất lượng của luật pháp, mà còn qua năng lực thực thi. Chính sách đúng nhưng thực thi chậm, không nhất quán hoặc tạo thêm chi phí cho người dân, doanh nghiệp thì chưa thể tạo ra đầy đủ giá trị phát triển. Vì vậy, thể chế tốt là điều kiện cần, còn năng lực thực thi là yếu tố quyết định để thể chế được chuyển hóa thành kết quả phát triển.

Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị và điều hành của Chính phủ. Đó là chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả; từ tiền kiểm sang hậu kiểm ở những lĩnh vực phù hợp; từ kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp sang kiến tạo môi trường để doanh nghiệp phát triển; từ xử lý vấn đề phát sinh sang chủ động kiến tạo năng lực cho tương lai.

Hiệu quả của chính sách cần được đánh giá không chỉ ở mức độ hoàn thiện văn bản hay tiến độ ban hành, mà quan trọng hơn ở kết quả thực tế chính sách có giải phóng nguồn lực, giảm chi phí, tạo động lực đầu tư và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất và hình thành năng lực phát triển mới hay không.

Điều này cũng đòi hỏi đổi mới tư duy về phân bổ nguồn lực. Trong giai đoạn mới, nguồn lực công cần được phân bổ theo hiệu quả và năng suất kỳ vọng, thay vì chủ yếu theo khả năng giải ngân.

Năng suất kỳ vọng không chỉ là chỉ tiêu kỹ thuật, mà là một cách tiếp cận mới trong quản trị phát triển. Trước khi quyết định bố trí nguồn lực vào một dự án, một ngành hay một chương trình, cần đánh giá năng lực sản xuất mới, giá trị gia tăng mới và mức năng suất mà nguồn lực đó có khả năng tạo ra trong tương lai.

Đây là sự chuyển đổi từ tư duy giải ngân được bao nhiêu sang tư duy tạo ra năng lực gì và năng suất kỳ vọng bao nhiêu. Cách tiếp cận này sẽ xóa bỏ lãng phí, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Ba chuyển đổi lớn cho giai đoạn phát triển mới

Từ những yêu cầu trên, Việt Nam đang đứng trước ba chuyển đổi lớn.

Thứ nhất, từ tăng trưởng dựa vào nguồn lực sang tăng trưởng dựa vào năng suất. Điều này không có nghĩa Việt Nam không tiếp tục huy động vốn, đất đai, lao động, công nghệ và các nguồn lực khác. Vấn đề cốt lõi là nâng cao khả năng chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị để mỗi đồng vốn, mỗi đơn vị đất đai và tài nguyên, mỗi giờ lao động tạo ra nhiều giá trị hơn trước. Đây chính là yêu cầu nâng cao năng suất.

Thứ hai, từ lợi thế chi phí sang lợi thế năng lực. Trong nhiều thập kỷ, chi phí lao động cạnh tranh, vị trí địa kinh tế và khả năng thu hút đầu tư tạo nên những lợi thế quan trọng. Nhưng lợi thế của những thập niên tới phải dựa vào con người, công nghệ, năng lực doanh nghiệp, chất lượng thể chế và đổi mới sáng tạo. Việt Nam cần chuyển từ vị thế hấp dẫn bởi chi phí thấp sang vị thế hấp dẫn bởi năng lực cao.

Thứ ba, từ Nhà nước quản lý phát triển sang Nhà nước kiến tạo năng lực phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, Chính phủ không làm thay thị trường nhưng phải làm tốt những việc thị trường không thể tự làm hoặc làm không hiệu quả.

Nhà nước không phân bổ thay thị trường nhưng phải tạo lập thể chế để nguồn lực được phân bổ hiệu quả. Nhà nước không can thiệp vào hoạt động bình thường của doanh nghiệp mà phải bảo vệ cạnh tranh và quyền tài sản. Nhà nước không chỉ xử lý các vấn đề hiện tại mà phải chủ động tạo điều kiện để tạo dựng những năng lực mới cho tương lai.

Đây là vai trò mới của Chính phủ và cũng là yêu cầu tất yếu của nền kinh tế đang chuyển sang giai đoạn phát triển dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực nội sinh.

Định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới: Tạo sức mạnh quốc gia từ năng lực nội sinh

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã bước sang nền tảng phát triển mới với quy mô và năng lực của nền kinh tế lớn hơn, năng lực sản xuất và hội nhập sâu rộng hơn, cộng đồng doanh nghiệp trưởng thành hơn, nguồn lực con người được nâng cao và vị thế quốc tế ngày càng được củng cố. Nhưng nền tảng mới cũng đòi hỏi định hướng phát triển mới, đáp ứng khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.

Bốn mươi năm qua là hành trình mở cửa, giải phóng nguồn lực và tạo lập năng lực tăng trưởng, những thập niên tới phải là hành trình kiến tạo năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ của quốc gia.

Định hướng đó trước hết phải bắt đầu từ con người. Bởi lẽ, phát triển cuối cùng phải được đo bằng việc người dân có cơ hội sống tốt hơn, học tập và làm việc có năng suất cao hơn, tham gia vào những công việc có giá trị gia tăng lớn hơn. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tăng trưởng.

Tiếp đó là năng lực của nền kinh tế. Việt Nam cần chuyển mạnh từ lợi thế về chi phí sang lợi thế về năng suất; từ gia công, lắp ráp sang tham gia sâu hơn vào thiết kế, công nghệ, thương hiệu và những khâu có giá trị gia tăng cao; từ thu hút nguồn lực bên ngoài sang đồng thời xây dựng năng lực nội sinh mạnh hơn.

Trong quá trình này, doanh nghiệp trong nước phải trở thành chủ thể trung tâm của quá trình nâng cao năng lực nội sinh. Khu vực tư nhân cần có môi trường thuận lợi để phát triển, đổi mới sáng tạo, đầu tư dài hạn và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu.

Cần thống nhất quan điểm xây dựng năng lực nội sinh không đồng nghĩa với thu hẹp hội nhập hay phát triển theo hướng khép kín. Ngược lại, năng lực nội sinh mạnh là nền tảng để Việt Nam hội nhập chủ động hơn, tiếp nhận và hấp thụ tốt hơn nguồn vốn, công nghệ, tri thức và cơ hội từ bên ngoài, đồng thời nâng cao khả năng tạo ra giá trị trong nước và vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu.

Nền kinh tế có năng lực nội sinh cao sẽ không chỉ tham gia vào thị trường thế giới mà có khả năng tạo ra giá trị, làm chủ một số công đoạn quan trọng và nâng cao vị thế trong quá trình hội nhập

Cuối cùng là năng lực quản trị quốc gia. Nền kinh tế càng lớn, phức tạp hơn, hội nhập sâu thì càng cần một Nhà nước có năng lực quản trị cao hơn. Chính phủ phải chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả; từ phân bổ nguồn lực theo cơ chế hành chính sang phân bổ dựa trên hiệu quả; từ xử lý vấn đề phát sinh sang chủ động kiến tạo năng lực cho tương lai.

Trong những thập niên phát triển tới, một logic phát triển mới đang hình thành, đó là: Khát vọng phát triển xác lập mục tiêu và tạo động lực tinh thần cho quốc gia. Thể chế tạo lập môi trường và mở đường để khát vọng trở thành hành động. Con người là chủ thể biến những điều kiện thể chế thành năng lực phát triển cụ thể. Đổi mới sáng tạo chuyển hóa năng lực thành năng suất và giá trị gia tăng; nâng cao năng suất tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế; sức cạnh tranh được nâng lên củng cố năng lực tự chủ của quốc gia; năng lực tự chủ ngày càng mạnh trở thành nền tảng tạo nên sức mạnh quốc gia.

Theo logic đó, phát triển không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng, mà phải được nhìn nhận qua khả năng nền kinh tế có thể hình thành, tích lũy và liên tục nâng cao những năng lực cần thiết để thích ứng, cạnh tranh và vươn lên.

Đây cũng là cách nhìn rộng hơn về mục tiêu phát triển. GDP tăng là một kết quả quan trọng, nhưng năng lực quốc gia được tạo ra và liên tục nâng lên mới là nền tảng của sức mạnh phát triển dài hạn.

Kiến tạo năng lực - Con đường đi tới sức mạnh quốc gia

Nhìn lại 40 năm Đổi mới, điều có ý nghĩa sâu sắc không chỉ ở những thành tựu phát triển đã đạt được, mà ở sự hình thành năng lực đặc biệt của quốc gia - Năng lực tự đổi mới, tự vượt lên những giới hạn của chính mình. Mỗi bước phát triển quan trọng của đất nước đều gắn với đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, giải phóng nguồn lực và khơi dậy sức sáng tạo của toàn xã hội.

Chính năng lực đó đã giúp Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn, mở rộng không gian phát triển, từng bước nâng cao vị thế trong khu vực và trên thế giới. Đây là tài sản lớn của 40 năm Đổi mới và cũng là nền tảng quan trọng để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.

Tuy nhiên, mỗi giai đoạn phát triển đều phát sinh những giới hạn mới cần vượt qua. Khi các nguồn lực truyền thống trở nên hữu hạn, lợi thế về chi phí dần thu hẹp, cạnh tranh quốc tế dựa nhiều hơn vào công nghệ, năng suất, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo, mô hình phát triển cũng cần chuyển đổi.

Nếu 40 năm qua là hành trình giải phóng nguồn lực để tạo tăng trưởng, thì những thập niên tới phải là hành trình kiến tạo năng lực để tạo nên năng suất cao hơn, sức cạnh tranh mạnh hơn, năng lực tự chủ lớn hơn, qua đó hình thành sức mạnh quốc gia vững chắc hơn. Sự chuyển đổi đó đòi hỏi một bước tiến mới trong tư duy về vai trò của Quốc hội và Chính phủ.

Chính phủ không chỉ kiến tạo môi trường để thị trường vận hành và nguồn lực được giải phóng, mà phải chủ động kiến tạo những điều kiện để các năng lực phát triển mới của quốc gia được hình thành. Chính phủ kiến tạo năng lực phải nhìn xa hơn những vấn đề của hiện tại, tạo dựng những nền tảng mà nền kinh tế và xã hội cần có cho tương lai.

Trong tiến trình đó, cải cách thể chế vẫn là một trong những khâu đột phá có ý nghĩa quyết định. Nhưng cải cách thể chế của giai đoạn mới không thể chỉ dừng ở việc tháo gỡ những rào cản đang tồn tại. Thể chế phải đi trước một bước để mở đường cho những mô hình kinh doanh mới, công nghệ mới, phương thức sản xuất mới và những năng lực phát triển mới.

Đồng thời, năng lực thực thi phải trở thành một bộ phận cấu thành của năng lực quản trị quốc gia, để các chủ trương đúng, chính sách tốt thực sự được chuyển hóa thành kết quả phát triển trong đời sống kinh tế - xã hội.

Đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới với những thời cơ lớn chưa từng có, đồng thời cũng phải đối mặt với các thách thức mới. Cơ hội từ khoa học công nghệ, Al, kinh tế số, kinh tế xanh và những chuyển dịch lớn của kinh tế thế giới đang mở ra những không gian phát triển mới cho Việt Nam. Điều quan trọng là phải biến những cơ hội đó thành năng lực thực tế của đất nước.

Muốn vậy, Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực thực thi. Khi thể chế tạo được không gian phát triển, Chính phủ tạo được năng lực kiến tạo, doanh nghiệp tạo được sức cạnh tranh và người dân phát huy được khát vọng và sức sáng tạo, những nguồn lực của đất nước sẽ được chuyển hóa thành năng lực phát triển ngày càng lớn.

Bốn mươi năm Đổi mới đã minh chứng một điều có ý nghĩa lâu dài: Việt Nam có khả năng thay đổi khi dám đổi mới tư duy, biết tôn trọng thực tiễn, hoàn thiện thể chế và khơi dậy sức mạnh của toàn xã hội. Niềm tin đó cần được chuyển hóa thành quyết tâm đổi mới trong giai đoạn phát triển mới.

Bốn mươi năm Đổi mới đã mở đường cho Việt Nam phát triển. Những thập niên tới sẽ là hành trình kiến tạo năng lực để Việt Nam vươn lên bằng chính sức mạnh ngày càng lớn của đất nước./.

Nguyễn Bích Lâm

Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

Nguồn Chính Phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/kien-tao-nang-luc-phat-trien-moi-119260921080332599.htm