Kinh nghiệm quốc tế trong cơ chế tài trợ nghiên cứu khoa học công nghệ
Kinh nghiệm của Indonesia, Nhật Bản và Ba Lan tại IRIFF 2026 gợi mở nhiều hướng đổi mới cơ chế tài trợ khoa học, công nghệ cho Việt Nam...

Toàn cảnh Toạ đảm - Ảnh: Bạch Dương.
Tại Phiên Tọa đàm Bàn tròn các Cơ quan Tài trợ ngày 6/11, trong khuôn khổ Diễn đàn mở rộng kết nối hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (IRIFF 2026), ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), đặt vấn đề trước các đại biểu trong và ngoài nước là làm thế nào để kết nối hiệu quả các nghiên cứu khoa học xuất sắc với những ưu tiên phát triển quốc gia, công nghệ chiến lược và nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.
Thảo luận vấn đề này, ông Arthur Ario Lelono, đại diện Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo Quốc gia Indonesia (BRIN), nhấn mạnh cần xem nguồn tài trợ là công cụ chính sách chiến lược, có thể được sử dụng để định hướng, dẫn dắt hoạt động nghiên cứu, hướng tới những mục tiêu cụ thể.
"Với quan điểm nghiên cứu xuất sắc phải đồng thời tạo ra giá trị cho xã hội, chúng tôi đặt ra yêu cầu đối với các nhà nghiên cứu phải gắn hoạt động nghiên cứu với những ưu tiên quốc gia, bởi nguồn tài trợ sẽ tập trung vào các lĩnh vực này. Tác động của nghiên cứu sẽ lớn hơn khi nghiên cứu đáp ứng những nhu cầu thực tế, thay vì chỉ hướng tới mục tiêu công bố khoa học", ông Lelono nói, đồng thời cho biết BRIN cũng tìm hiểu những khó khăn của doanh nghiệp và xã hội, sau đó đưa những vấn đề này thành bài toán nghiên cứu cho các nhà khoa học.

Ông Arthur Ario Lelono, Đại diện Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo Quốc gia Indonesia (BRIN) - Ảnh: Bạch Dương.
Tiếp đến BRIN cũng có các chương trình tài trợ khác nhau cho từng giai đoạn nghiên cứu, từ nghiên cứu cơ bản, chế tạo mẫu thử, thử nghiệm đến thương mại hóa.
Ông Lenono nhấn mạnh: "Không thể sử dụng cùng một chương trình nghiên cứu, cùng một đầu ra và cùng một tiến độ cho tất cả các giai đoạn. Mỗi giai đoạn cần có cơ chế riêng".
Đồng thời cần tận dụng hợp tác quốc tế và các nguồn tài trợ từ những tổ chức quốc tế để tăng cường nguồn lực. Nguồn lực ở đây không chỉ là tài chính mà còn bao gồm vốn nhân lực và hoạt động trao đổi, dịch chuyển nhân lực nghiên cứu.
Trong khi đó, chia sẻ kinh nghiệm về quy trình đánh giá tiếp nhận hồ sơ, bà Reiko Yuguchi, Giám đốc Văn phòng Singapore, Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST), cho biết quan điểm cốt lõi của JST là giảm khối lượng công việc cho cả người nộp hồ sơ và người đánh giá, đồng thời vẫn bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong tuyển chọn.
Với nhà khoa học, điều đó đòi hỏi hướng dẫn rõ ràng, điều kiện tham gia cụ thể và quy trình nộp hồ sơ đơn giản. Với hội đồng đánh giá, cần có tiêu chí thống nhất, biểu mẫu đề xuất được thiết kế khoa học và cơ chế xác định, quản lý xung đột lợi ích.

Bà Reiko Yuguchi, Giám đốc Văn phòng Singapore, Cơ quan Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST) - Ảnh: Bạch Dương.
JST áp dụng quy trình tuyển chọn hai bước, gồm đánh giá hồ sơ theo hình thức phản biện đồng cấp và phỏng vấn những đề xuất được lựa chọn. Đối với các dự án hợp tác quốc tế, kết quả đánh giá ở cấp quốc gia tiếp tục được đưa ra hội đồng chung để thống nhất danh sách tài trợ cuối cùng.
Đáng chú ý, cơ quan này áp dụng nguyên tắc Kaizen, tức cải tiến liên tục, thông qua việc theo dõi từng dự án, nhận diện những cách làm hiệu quả và những vấn đề cần điều chỉnh trong quá trình triển khai.
Về kinh nghiệm hợp tác quốc tế, đại diện Ba Lan cho rằng không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc hình thành một quỹ chung giữa các quốc gia. Thay vào đó, các cơ quan tài trợ có thể sử dụng ngân sách riêng, nhưng thống nhất chương trình, quy trình đánh giá và mục tiêu nghiên cứu.
Bà Maciej Jędrzejek, Phó Giám đốc Vụ Hợp tác quốc tế, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia Ba Lan (NCBR), cho biết cơ quan này đang triển khai nhiều mô hình hợp tác khác nhau, từ chương trình kêu gọi song phương, InnovGlobal đến tham gia các mạng lưới Eureka và những chương trình đối tác đồng tài trợ của châu Âu.
Trong mô hình song phương mà nước này tham gia, hai cơ quan tài trợ cùng xây dựng chương trình kêu gọi nghiên cứu, thống nhất chủ đề, điều kiện tham gia, tiến độ và tiêu chí đánh giá. Tuy nhiên, mỗi bên sử dụng ngân sách của mình để tài trợ cho các tổ chức, nhóm nghiên cứu thuộc phạm vi quản lý.
Các nhóm nghiên cứu ở hai quốc gia cùng thực hiện một dự án chung, có mục tiêu, gói công việc và các mốc tiến độ thống nhất, nhưng nguồn kinh phí được quản lý bởi những cơ quan tài trợ khác nhau.
Mô hình này tạo ra sự linh hoạt trong lựa chọn đối tác và chủ đề nghiên cứu, không phải chờ hai quốc gia đồng thời tổ chức một đợt kêu gọi chung. Tuy nhiên, điều kiện quan trọng là liên danh phải có kế hoạch tài chính đáng tin cậy để bảo đảm phần việc của đối tác nước ngoài.


