Kinh tế bạc: Khi tuổi già trở thành nguồn lực

Dân số thế giới đang bước vào giai đoạn già hóa nhanh chóng. Đây không còn là câu chuyện riêng của một quốc gia, mà là một chuyển động nhân khẩu học đang lan rộng.

Kinh tế bạc không chỉ là câu chuyện về cách một xã hội chăm sóc người cao tuổi, mà còn là cách tổ chức một nền kinh tế để tuổi già tiếp tục tạo ra giá trị. (Nguồn: VGP)

Kinh tế bạc không chỉ là câu chuyện về cách một xã hội chăm sóc người cao tuổi, mà còn là cách tổ chức một nền kinh tế để tuổi già tiếp tục tạo ra giá trị. (Nguồn: VGP)

Năm 2006, Nhật Bản trở thành xã hội “siêu già” đầu tiên trên thế giới. Hai thập niên sau, già hóa đã trở thành một thực tế ngày càng rõ ở nhiều nền kinh tế châu Á: cuối năm 2025, Trung Quốc có khoảng 320 triệu người từ 60 tuổi trở lên, gần 1/4 dân số; ở Hàn Quốc, hơn một phần năm dân số đã ngoài 65 tuổi.

Ở Mỹ, nhóm dân số từ 50 tuổi trở lên đạt 123 triệu người năm 2024 và sẽ chạm mốc gần 158 triệu vào năm 2060. Trong khi đó, Mỹ Latinh và Caribbean được dự báo là khu vực già hóa nhanh nhất thế giới với tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên có thể tăng từ 12% lên 25% chỉ trong vòng ba thập niên tới (2020-2050) trong bối cảnh nhiều nền kinh tế vẫn đang loay hoay hoàn tất chặng đường phát triển của mình.

Châu Phi dù vẫn là lục địa trẻ nhất hành tinh, nhưng dân số cao tuổi được dự báo tăng gấp ba, từ 54 triệu lên 163 triệu người trong vòng ba mươi năm tới.

Nhìn chung, ở hầu hết những nơi này, một khái niệm chung đang dần định hình: Kinh tế bạc - không đơn thuần là thị trường bán sản phẩm cho người già, mà là một hệ sinh thái kinh tế hình thành và phát triển xung quanh nhu cầu và cơ hội của một xã hội đang già đi. Liên minh châu Âu (EU) thậm chí đã đưa kinh tế bạc vào hẳn một khung chính sách chính thức nhằm biến thách thức già hóa dân số thành động lực tăng trưởng mới.

'Kinh tế hóa' việc chăm sóc người cao tuổi

Ở Nhật Bản, câu chuyện bắt đầu từ năm 2000, khi chính phủ chính thức vận hành Kaigo Hoken, hệ thống bảo hiểm công cộng dài hạn bắt buộc dành cho mọi cư dân từ 40 tuổi trở lên, bao gồm cả người nước ngoài đăng ký lưu trú.

Chưa đầy hai thập niên sau, số người đủ điều kiện hưởng chế độ này đã tăng gần 3 lần, từ 2,18 triệu lên 6,33 triệu. Nhân lực chăm sóc không theo kịp đà tăng đó và công nghệ bắt đầu được đưa vào hệ thống: robot chăm sóc, thiết bị hỗ trợ, các mô hình chăm sóc tại nhà ứng dụng công nghệ. Không phải Kaigo Hoken tự sinh ra những lĩnh vực này, mà nhu cầu ngày càng lớn và kéo dài đã thúc đẩy cả hệ sinh thái trên cùng mở rộng.

Nếu Nhật Bản cho thấy phần nổi của tảng băng - chăm sóc chính thức, được tổ chức, được trả tiền - thì châu Âu lại đưa ra nửa chìm còn lại. Phần lớn việc chăm sóc người thân cao tuổi hoặc phụ thuộc ở châu Âu vẫn diễn ra không công trong chính các gia đình.

Theo tính toán của Ủy ban châu Âu, giá trị của khối thời gian chăm sóc không công này tương đương khoảng 2,5% GDP toàn khối, cao hơn cả mức chi tiêu công dành cho hệ thống chăm sóc dài hạn chính thức, chỉ khoảng 1,7% GDP năm 2019. Mỗi tuần, khoảng 52 triệu người ở EU vẫn làm công việc chăm sóc người thân của mình, chiếm gần 80% tổng số người cung cấp chăm sóc dài hạn tại khối này, và phần lớn trong số đó là phụ nữ.

Đây chính là phần kinh tế mà không hóa đơn nào ghi lại. Ủy ban châu Âu ước tính, nếu đầu tư bài bản hơn cho hệ thống chăm sóc chính thức, riêng lĩnh vực này có thể tạo thêm 13,6 triệu việc làm vào năm 2030, đồng thời giải phóng một phần lực lượng lao động, chủ yếu là phụ nữ, khỏi trách nhiệm chăm sóc không công.

Khi tuổi già trở thành nguồn lực

Rất nhiều nghiên cứu về kinh tế bạc chọn mốc 50 tuổi làm ranh giới, rộng hơn khái niệm “người cao tuổi” mà luật pháp nhiều nước vẫn dùng là 60 hoặc 65. Ở Mỹ, chính nhóm 50+ ấy lại đang kể một câu chuyện khác hẳn với câu chuyện về chăm sóc ở trên: người cao tuổi vẫn tiếp tục tạo ra giá trị.

Theo báo cáo Triển vọng nền kinh tế trường thọ 2026 của Hiệp hội Người nghỉ hưu Mỹ (AARP), gần 57 triệu người Mỹ từ 50 tuổi trở lên vẫn đang trong lực lượng lao động; riêng năm 2024, công việc chăm sóc và hoạt động tình nguyện không được trả công của họ được định giá khoảng 1.200 tỷ USD, một đóng góp kinh tế lớn nhưng không được phản ánh trực tiếp trong GDP.

Ước tính, riêng việc trông cháu không công của các ông bà Mỹ có giá trị khoảng 731 tỷ USD mỗi năm. (Nguồn: Theheritagelcs)

Ước tính, riêng việc trông cháu không công của các ông bà Mỹ có giá trị khoảng 731 tỷ USD mỗi năm. (Nguồn: Theheritagelcs)

Một ví dụ rõ là việc ông bà chăm sóc cháu. Một khảo sát khác của AARP, cũng được công bố năm 2026, ước tính, riêng việc trông cháu không công của các ông bà Mỹ có giá trị khoảng 731 tỷ USD mỗi năm.

Đây không phải là chuyện riêng của nước Mỹ. Ở châu Âu, theo khảo sát Sức khỏe, Già hóa và Hưu trí (SHARE) thực hiện trên 11 quốc gia, hơn một nửa số bà và gần một nửa số ông từ 50 tuổi trở lên từng trông cháu ít nhất một lần trong năm. Còn ở Trung Quốc, gần 60% ông bà trông cháu.

Những con số trên chỉ ra rằng, người cao tuổi không chỉ nhận sự chăm sóc mà còn trực tiếp chăm sóc người khác. Nguồn lực của họ, vì thế, không chỉ nằm ở đồng lương hay sức mua, mà còn ở quỹ thời gian, kinh nghiệm và những đóng góp cho gia đình, cộng đồng.

Ngoài ra, Trung Quốc còn cho thấy một mặt khác của nguồn lực ấy: Sức mua. Viện Lão hóa Fudan dự báo, nếu đà tiêu dùng của nhóm dân số từ 50 tuổi trở lên duy trì ở mức vừa phải, kinh tế bạc nước này có thể đạt quy mô 19.100 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 2.690 tỷ USD) vào năm 2035. Dù chỉ là dự báo nhưng con số này cho thấy, một nhóm dân số lớn tuổi, khi ngày càng đông, có thể trở thành động lực của cả một thị trường.

Như vậy, nền kinh tế bạc không chỉ đặt câu hỏi làm sao để sống lâu hơn, mà còn là làm sao để người cao tuổi tiếp tục sống độc lập và có mặt trong đời sống kinh tế - xã hội.

Việt Nam trước nền kinh tế bạc

Tương đồng với Mỹ Latinh, Việt Nam đang chứng kiến việc già hóa dân số diễn ra trong khi quá trình phát triển kinh tế vẫn chưa hoàn tất. Điều này đặt ra câu hỏi: một quốc gia vẫn đang trên đường hoàn thiện nền kinh tế sẽ chuẩn bị cho nền kinh tế bạc như thế nào?

Bài toán, vì vậy, không còn chỉ là chăm sóc và an sinh. Số người cao tuổi tăng lên kéo theo nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ, không gian sống phù hợp, trong khi chính lực lượng ấy cũng vẫn tham gia vào nền kinh tế đang vận hành.

Tại Hội nghị sơ kết công tác 7 tháng năm 2026 của Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam ngày 17/8, một con số được nhắc đến: cả nước có gần 16,5 triệu người cao tuổi, trong đó có hơn 9 triệu người đang trực tiếp lao động, sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, hơn một nửa số người cao tuổi Việt Nam hiện vẫn trực tiếp tham gia vào các hoạt động tạo ra thu nhập.

Cũng tại hội nghị này, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ chăm sóc sang phát huy nguồn lực người cao tuổi. Phó Thủ tướng cũng yêu cầu thúc đẩy hệ sinh thái “kinh tế bạc”, đồng thời hoàn thiện dữ liệu quốc gia về người cao tuổi và tạo môi trường để người cao tuổi tiếp tục tham gia, đóng góp trong đời sống kinh tế - xã hội.

Trước đó, hồi tháng Ba, tại Hội nghị về tình hình phát triển “kinh tế bạc” trên thế giới và thích ứng chính sách, chiến lược của Việt Nam, Chính phủ đã đặt vấn đề hoàn thiện thể chế về kinh tế bạc theo hướng đây là một định hướng phát triển dài hạn, liên ngành, đồng thời khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, công nghệ hỗ trợ, nhà ở, dịch vụ tài chính và bảo hiểm.

Đến ngày 22/6, Bộ Nội vụ đề nghị các bộ, ngành, địa phương rà soát, đánh giá và đề xuất điều chỉnh, bổ sung hoặc xây dựng mới các cơ chế, chính sách, đề án và kế hoạch phát triển kinh tế bạc đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Phạm vi rà soát bao gồm việc làm, y tế, chăm sóc sức khỏe, tài chính, bảo hiểm, an sinh xã hội, văn hóa, giải trí, du lịch, thể thao, công nghệ thông tin và hạ tầng.

Đáng chú ý, Quyết định 1116/QĐ-TTg năm 2026 sửa đổi Quyết định 1579/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030 đã đặt mục tiêu phát triển cơ sở chăm sóc người cao tuổi ban ngày, câu lạc bộ chăm sóc tại cộng đồng, từng bước xã hội hóa cơ sở chăm sóc và ứng dụng công nghệ thông tin vào dịch vụ chăm sóc.

Riêng Hà Nội đã cụ thể hóa một phần hướng tiếp cận này bằng Nghị quyết 80/2026/NQ-HĐND ngày 15/7/2026 về phát triển sản phẩm, dịch vụ chăm sóc, phục vụ người cao tuổi và khuyến khích người cao tuổi tham gia phát triển kinh tế. Chính sách bao gồm hỗ trợ các điểm chăm sóc ban ngày và câu lạc bộ chăm sóc tại cộng đồng, khuyến khích đầu tư vào cơ sở chăm sóc, công nghệ hỗ trợ, nhà ở, tài chính - bảo hiểm; đồng thời có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng lao động cao tuổi và người cao tuổi khởi nghiệp, sản xuất, kinh doanh.

Những mảnh ghép đầu tiên của kinh tế bạc vì thế đã xuất hiện: từ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ chăm sóc đến việc làm, công nghệ và các sản phẩm, dịch vụ dành cho người cao tuổi. Nhưng hệ sinh thái này vẫn đang trong giai đoạn hình thành. Các cơ sở chăm sóc người cao tuổi hiện vẫn chủ yếu tập trung ở đô thị lớn, chi phí còn cao mà không phải người cao tuổi nào hay gia đình nào cũng đủ sức chi trả.

Cung và cầu, chăm sóc và nguồn lực, đang cùng hiện diện ở Việt Nam cũng như tại nhiều nền kinh tế khác, dù với tốc độ và điều kiện riêng. Kinh tế bạc, sau cùng, không chỉ là câu chuyện về cách một xã hội chăm sóc người cao tuổi, mà còn là cách tổ chức một nền kinh tế để tuổi già tiếp tục tạo ra giá trị.

Hoàng Hà

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/kinh-te-bac-khi-tuoi-gia-tro-thanh-nguon-luc-450125.html