Kinh tế nhà nước dẫn dắt tăng trưởng xanh

Tăng trưởng xanh đang trở thành định hướng chiến lược cho phát triển dài hạn của Việt Nam trong bối cảnh các giới hạn sinh thái ngày càng rõ rệt. Các nghiên cứu khoa học hiện đại khẳng định, nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào vốn tự nhiên và dịch vụ hệ sinh thái (Dasgupta, 2021). Nếu tiếp tục mô hình tăng trưởng thâm dụng tài nguyên, nền kinh tế sẽ đối mặt với rủi ro suy giảm năng suất và bất ổn vĩ mô. Vì vậy, chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, năng suất, năng lượng sạch và quản trị tài nguyên bền vững là yêu cầu tất yếu, tạo nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng cao đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và nâng cao chất lượng phát triển.

Lựa chọn chiến lược để vượt qua giới hạn

Quỹ đạo phát triển kinh tế toàn cầu và tại Việt Nam trong suốt nhiều thập kỷ dựa trên một hệ chuẩn truyền thống, trong đó sinh quyển được xem như một kho lưu trữ nguyên liệu thô vô tận, cũng là một bể chứa vô thời hạn cho các hệ lụy ngoại ứng công nghiệp. Tuy nhiên, phân tích kinh tế học trái đất hiện đại đã chứng minh, hệ thống kinh tế của con người hoàn toàn nằm trong và phụ thuộc tuyệt đối vào khả năng tái tạo của thế giới tự nhiên. Định giá thấp một cách có hệ thống đối với vốn tự nhiên đã tạo ra “bất đẳng thức tác động” trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt, đối với các nền kinh tế đang phát triển nhanh, mở rộng công nghiệp không ngừng và các ranh giới sinh thái nghiêm ngặt đang tạo ra một rủi ro kinh tế vĩ mô mang tính hệ thống, đe dọa trực tiếp đến sự thịnh vượng trong dài hạn.

Việt Nam đứng trước một ngã rẽ lịch sử đặc biệt quan trọng cả về cấu trúc kinh tế vĩ mô lẫn các giới hạn sinh lý tự nhiên, đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, chuyển đổi từ mức tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa khoảng 6,47 tỷ USD năm 1990 lên nền kinh tế có quy mô vượt 514 tỷ USD (theo thước đo sức mua tương đương đã vượt 1,6 nghìn tỷ USD) vào năm 2025. Tuy nhiên, Ngân hàng Thế giới đã chỉ ra rằng, Việt Nam phụ thuộc vào nguồn vốn tự nhiên không được định giá đúng mức. Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa nhiều vào thâm dụng tài nguyên, lao động giá rẻ và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hướng gia công - vốn đã thành công trong việc đưa Việt Nam thoát khỏi đói nghèo và vươn lên vị thế quốc gia thu nhập trung bình thấp, giờ đang bộc lộ sự suy giảm lợi ích biên nghiêm trọng, nếu cứ tiếp tục một quỹ đạo "kinh doanh như thường lệ" với những tổn thương thứ cấp và đa tầng.

Nhận thức được những giới hạn vật lý tuyệt đối của không gian trên đất liền và trên biển, cũng như những áp lực từ quá trình toàn cầu hóa xanh, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã tạo ra một sự thay đổi mang tính nền tảng trong tư duy phát triển. Theo đó, đã chính thức dịch chuyển bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và tăng trưởng xanh từ vai trò "bổ trợ" sang một "trụ cột", điều kiện và động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Đại hội XIV xác lập nguyên tắc định hướng "không đánh đổi" môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần, khẳng định chất lượng môi trường sống chính là thước đo tối hậu cho hiệu quả phát triển. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động phức tạp, Đại hội vẫn kiên quyết xác lập mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm cho giai đoạn 2026-2030. Sự kết hợp giữa tham vọng tăng trưởng 2 con số và yêu cầu khắt khe về bảo vệ hệ sinh thái đòi hỏi một sự chuyển dịch cấu trúc chưa từng có, chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP), đổi mới sáng tạo, số hóa và hiệu quả sinh thái tuyệt đối.

Theo mô hình Kịch bản cơ sở (Business-As-Usual, BAU) giả định tiếp tục các phương thức thực thi kinh tế-xã hội hiện tại, ưu tiên mạnh mẽ cho việc mở rộng công nghiệp ngay lập tức, bỏ qua sự ổn định sinh thái dài hạn cho thấy, tăng trưởng GDP dự kiến trong giai đoạn 2026-2030 ở kịch bản này vẫn có thể đạt khoảng 7,05% mỗi năm nhờ vào đà quán tính của các dòng vốn đầu tư truyền thống, nhưng sẽ bắt đầu bộc lộ sự suy giảm kết cấu xuống mức 6,5%-7,5% trong giai đoạn 2031-2050 do lực cản sinh thái và chi phí phục hồi thảm họa ngày càng tăng. Trong kịch bản, mục tiêu GDP bình quân đầu người chỉ có thể tiệm cận ngưỡng 7.000 USD vào năm 2030 và khoảng 25.000 USD vào năm 2050 đi kèm rủi ro cao về việc nền kinh tế bị mắc kẹt trong chuỗi cung ứng carbon cao và gánh chịu tài sản mắc kẹt khổng lồ trong lĩnh vực năng lượng hóa thạch.

Trong khi đó, hướng đi mới của Kịch bản Chuyển đổi xanh (hay Kịch bản Phấn đấu-Striving Scenario) thiết lập lại hoàn toàn mối quan hệ giữa tự nhiên và nền kinh tế thông qua việc thực thi nghiêm ngặt, phối hợp và hiệu quả các chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, phân loại tài chính xanh, kinh tế tuần hoàn và đa dạng sinh học. Kịch bản mạnh mẽ này được các mô hình chứng minh là mang lại lợi ích kinh tế vượt trội trong dài hạn. Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP bình quân theo đó sẽ lớn hơn 10,0% (thậm chí đạt mức 10,5%) mỗi năm trong giai đoạn bản lề 2026-2030, hoàn toàn đáp ứng được khát vọng phát triển 2 con số được đề ra tại Đại hội Đảng lần thứ XIV. Sau đó, tốc độ này sẽ ổn định ở mức khả năng phục hồi cao từ 7,0-8,1% mỗi năm trong suốt giai đoạn 2031 đến 2050.

Sự tăng tốc kinh tế vĩ mô này hoàn toàn tách rời (decoupled) khỏi sự cạn kiệt không gian và suy thoái sinh thái. GDP bình quân đầu người theo kịch bản xanh được dự phóng đạt 8.500-8.600 USD vào năm 2030 và có khả năng bứt phá lên mức 38.000-45.300 USD vào năm 2050, đưa Việt Nam vững chắc vào hàng ngũ các quốc gia thu nhập cao (NTSP, 2026).

Tuy nhiên, để mở khóa quỹ đạo thịnh vượng này, nền kinh tế đòi hỏi một sự huy động nguồn vốn khổng lồ và quyết liệt. Các mô hình ước tính cần hơn 2,4 nghìn tỷ USD trên tất cả các lĩnh vực để tài trợ cho lộ trình Net-Zero vào năm 2050, song song với đó là các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng hiện đại chiếm tới xấp xỉ 40% GDP trong giai đoạn ngắn hạn (NTSP, 2026). Riêng ngành điện đã yêu cầu khoản đầu tư mục tiêu lên tới 134,7 tỷ USD vào năm 2030 (NTSP, 2026). Khung phân tích GTAP-InVEST đã chứng minh bằng mô hình toán học rằng những dòng vốn khổng lồ này không phải là "chi phí chìm" (sunk costs), mà là các khoản đầu tư có năng suất cao (highly productive investments), mang lại tỷ suất lợi nhuận kinh tế vĩ mô dài hạn lớn hơn nhiều so với mô hình khai thác tài nguyên kiệt quệ (Johnson và cộng sự, 2021).

Khu vực kinh tế nhà nước đóng vai trò dẫn dắt chuyển đổi

Để hiện thực hóa và điều phối quy mô nguồn vốn cũng như định hướng cấu trúc trong kịch bản chuyển đổi xanh, khu vực kinh tế nhà nước giữ một vị thế trung tâm và mang tính sống còn.

Theo định hướng của Đảng và nhà nước, kinh tế nhà nước phải tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo, làm lực lượng nòng cốt trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và tiên phong dẫn dắt tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng. Yêu cầu này đã được cụ thể hóa mang tính bước ngoặt thông qua Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, được xem là "cởi trói" toàn diện về thể chế, chuyển mạnh tư duy từ quản lý hành chính sang "kiến tạo phát triển và quản trị hiện đại".

Nghị quyết 79-NQ/TW chính thức giao trọng trách cho các DNNN phải làm lực lượng tiên phong, mở đường trong các không gian phát triển mới của nền kinh tế tri thức, đặc biệt là an ninh năng lượng và chuyển đổi xanh. Để hiện thực hóa khát vọng và hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia và ban hành Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 79-NQ/TW, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, chấm dứt thanh tra chồng chéo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm trong quá trình đổi mới công nghệ xanh.

Dữ liệu của Cục Thống kê (2024) cho thấy bức tranh biến động và cơ cấu rõ nét: mặc dù doanh thu thuần của các DNNN vẫn tăng trưởng mạnh mẽ bằng con số tuyệt đối, từ mức 2.033,5 nghìn tỷ đồng (năm 2010) lên tới 4.521,53 nghìn tỷ đồng (năm 2023), nhưng tỷ trọng đóng góp của khu vực này trong tổng doanh thu nền kinh tế lại suy giảm liên tục từ 27,16% xuống còn 12,46% trong cùng giai đoạn. Sự thu hẹp về mặt tỷ trọng không làm mất đi tính trọng yếu của DNNN, mà phản ánh yêu cầu cấp thiết buộc khu vực nhà nước phải chuyển dịch từ việc đơn thuần mở rộng quy mô bề rộng sang vai trò "đầu tàu" về áp dụng công nghệ xanh và thiết lập các tiêu chuẩn phát triển bền vững.

Hơn thế, vai trò của DNNN mang tính quyết định tuyệt đối trong lĩnh vực năng lượng, yếu tố gốc rễ của quá trình giảm phát thải khí nhà kính. Hiện tại, các tập đoàn kinh tế nhà nước đang trực tiếp thống trị các huyết mạch năng lượng quốc gia: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) kiểm soát hạ tầng truyền tải và phân phối điện, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) chi phối mảng hydrocarbon và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng than đá. Là những chủ thể nắm giữ các ngành công nghiệp thâm dụng carbon lớn nhất nước, các DNNN này bắt buộc phải là những pháp nhân đi tiên phong trong việc thực thi nghiêm ngặt các quy định về đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV), vận hành Sàn giao dịch tín chỉ carbon nội địa và hiện thực hóa các cam kết chuyển dịch năng lượng trong khuôn khổ Quy hoạch Điện VIII và JETP. Thành bại của kịch bản chuyển đổi xanh phụ thuộc trực tiếp vào năng lực đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa quản trị rủi ro ESG và khả năng hấp thụ, giải ngân nguồn vốn tài chính xanh khổng lồ của khối DNNN.

Tổ chức lại không gian phát triển của quốc gia

Trong những năm qua, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh đã làm thay đổi mạnh mẽ cấu trúc sử dụng đất tại Việt Nam. Lượng đất chưa sử dụng giảm từ 2.158.426 ha (tương đương 6,52% diện tích lãnh thổ) vào năm 2014, xuống chỉ còn khoảng 2,88% vào năm 2024. Điều này cho thấy, bất kỳ sự mở rộng hạ tầng hay công nghiệp nào trong tương lai sẽ không còn không gian dư thừa, buộc phải chuyển đổi từ các loại đất có tính năng sinh thái hoặc năng suất nông nghiệp hiện hữu, dẫn nền kinh tế vào một trạng thái đánh đổi khốc liệt (zero-sum spatial game).

Trong bối cảnh đó, chiến lược phát triển mới hướng tới việc tổ chức lại không gian kinh tế theo hướng bền vững hơn, đó là bảo vệ các vùng sinh thái quan trọng, phát triển nông nghiệp công nghệ cao xây dựng khu công nghiệp sinh thái và quy hoạch đô thị gắn với hạ tầng xanh.

Đồng thời, cần mở rộng và giải quyết những hữu hạn trong việc mở rộng không gian phát triển quốc gia. Một ví dụ là phát triển kinh tế biển xanh. Việc quá tải của mô hình tăng trưởng kinh tế trên đất liền, đang gây ra các cuộc khủng hoảng hiện sinh tại môi trường biển và không gian ven bờ, nơi đóng góp trực tiếp từ 5-5,8% GDP quốc gia. Để giải quyết bài toán này, các bên đề xuất chiến lược quy hoạch không gian biển theo nguyên tắc "đồng vị trí". Nghĩa là thay vì phân định các vùng độc quyền, mô hình này cho phép phát triển nuôi trồng thủy sản công nghệ cao ngay dưới chân các tháp điện gió ngoài khơi. Cách tiếp cận mới cho phép nhiều hoạt động kinh tế cùng tồn tại trên một không gian biển theo mô hình cộng sinh, vừa nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa bảo vệ hệ sinh thái đại dương. Cách cộng sinh này sẽ tối đa hóa doanh thu xuất khẩu và an ninh năng lượng trên cùng một diện tích mặt nước, trong khi các móng trụ điện gió vô hình trung tạo ra mạng lưới rạn san hô nhân tạo giúp phục hồi nguồn lợi sinh vật biển.

Bên cạnh đó là bài toán chuyển dịch năng lượng - thành tố đóng vai trò trung tâm trong toàn bộ tiến trình chuyển đổi xanh. Chiến lược phát triển điện lực mới của Việt Nam đặt mục tiêu giảm dần điện than và tăng mạnh tỷ trọng năng lượng tái tạo. Theo quy hoạch mới: Tỷ trọng năng lượng tái tạo (không bao gồm thủy điện) được đặt mục tiêu nâng lên 28%-36% vào năm 2030 và hướng tới mức 74%-75% hệ thống điện vào năm 2050. Điện gió trên bờ và gần bờ nhắm tới 26.066-38.029 MW. Điện gió ngoài khơi được kỳ vọng trở thành năng lượng nền tảng mới với 6.000-17.032 MW phục vụ tiêu dùng nội địa đến 2035 và vươn tới ngưỡng 113.503-139.097 MW vào 2050 (kèm theo mục tiêu sản xuất năng lượng mới/hydrogen). Tổng điện mặt trời được đẩy lên ngưỡng 46.459-73.416 MW, với chính sách mang tính cách mạng là phấn đấu 50% tòa nhà công sở và nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu. Điện khí khai thác nội địa (10.861-14.930 MW) và LNG nhập khẩu (22.524 MW) đóng vai trò là năng lượng chuyển tiếp, có lộ trình chuyển sang đốt hydro. Cùng với đó, các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 (4.000-6.400 MW) dự kiến tái khởi động trong giai đoạn 2030-2035.

Cùng với đó là việc định giá lượng xả thải. Chi phí môi trường không thể tiếp tục được "xã hội hóa" để lợi nhuận được "tư nhân hóa". Việc thiết lập Sàn giao dịch tín chỉ carbon trong nước theo Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 là bước tiến mang tính cách mạng, đưa Việt Nam từ các tuyên bố chính sách sang việc vận hành một hạ tầng định giá ô nhiễm được quản lý chặt chẽ như một thị trường tài chính.

Chuyển đổi không gian và chuyển dịch năng lượng chỉ đạt được tính trọn vẹn khi đi kèm với việc quản trị khép kín dòng vật chất của nền kinh tế. Tư duy này đã được cụ thể hóa bằng Quyết định 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ, ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Kinh tế tuần hoàn đến năm 2035. Theo đó, phá vỡ quan điểm truyền thống vốn coi kinh tế tuần hoàn chỉ là kỹ thuật quản lý rác thải ở cuối đường ống. Thay vào đó, thiết lập sự tái định hình toàn diện từ khâu thiết kế sản phẩm, mô hình kinh doanh, kéo dài tuổi thọ vật liệu, cho đến tái chế. Quyết định 222/QĐ-TTg đặt ra các chỉ tiêu ràng buộc đến năm 2030: đạt mức tiết kiệm từ 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc và phát triển công suất điện sinh khối, điện rác lên mức 2.270 MW (tương ứng 1,5% tổng công suất hệ thống), biến rác thải nông nghiệp và sinh hoạt từ một gánh nặng môi trường thành một loại tài sản năng lượng ổn định lưới điện.

Cơ chế lõi để thực thi là quy định về "cộng sinh công nghiệp" (industrial symbiosis) trong các khu công nghiệp sinh thái, nơi chất xả và nhiệt dư của nhà máy này tự động trở thành nguyên liệu đầu vào cho nhà máy lân cận. Đây là tầm nhìn đến năm 2035, định vị Việt Nam thành một trung tâm đổi mới sáng tạo, cung cấp công nghệ và thu hút vốn đầu tư tuần hoàn hàng đầu khu vực ASEAN.

Green Taxonomy - chìa khóa khơi thông nguồn vốn

Toàn bộ tầm nhìn vĩ mô, các quy hoạch không gian đa tầng, sự chuyển dịch năng lượng JETP và hệ thống tuần hoàn trên không thể tự thân vận hành nếu thiếu vốn được cung cấp liên tục từ thị trường tài chính.

Trong tiến trình này, ngân hàng không chỉ là kênh cung cấp vốn mà còn là lực lượng dẫn dắt sự dịch chuyển của dòng đầu tư trong toàn bộ nền kinh tế. Tính đến cuối năm 2025 tổng dư nợ tín dụng xanh của hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt khoảng 850 nghìn tỷ đồng với 58 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh, chủ yếu trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, nông nghiệp xanh và xử lý môi trường.

Trong mô hình kinh tế xanh, ngân hàng không chỉ cung cấp vốn mà còn đóng vai trò định hướng dòng đầu tư. Khi các tiêu chí ESG được lồng ghép vào quy trình tín dụng, doanh nghiệp muốn tiếp cận vốn sẽ buộc phải đầu tư vào công nghệ sạch và nâng cao chuẩn mực quản trị.

Đồng thời, hệ thống ngân hàng cũng đóng vai trò cầu nối giữa Việt Nam và các nguồn vốn xanh toàn cầu như GFANZ, JETP và các quỹ khí hậu quốc tế. Khi năng lực quản trị rủi ro khí hậu và chuẩn hóa báo cáo Môi trường-Xã hội-Quản trị (ESG) được nâng cao, Việt Nam sẽ có khả năng hấp thụ tốt hơn các nguồn lực tài chính quốc tế cho chuyển đổi xanh.

Thách thức lịch sử đối với tín dụng xanh tại Việt Nam là sự thiếu vắng một "định nghĩa" pháp lý chung về thế nào là bền vững, dẫn đến rủi ro "tẩy xanh" (greenwashing) và sự ngần ngại của các quỹ đầu tư quốc tế.

Nút thắt này đã được gỡ bỏ triệt để thông qua Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 4/7/2025 về việc quy định tiêu chí môi trường và xác nhận dự án đầu tư thuộc Danh mục phân loại xanh quốc gia, cung cấp một ngôn ngữ chung và các tiêu chí kỹ thuật (quy định tại Phụ lục I) định lượng, minh bạch để phân loại các dự án.

Như tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, hệ thống ngân hàng mang sứ mệnh "dẫn dắt" các nguồn lực kinh tế trong kỷ nguyên mới. Các tổ chức tín dụng giờ đây có nghĩa vụ lồng ghép các rủi ro và tiêu chuẩn ESG vào hoạt động cho vay. Bằng cách định nghĩa dứt khoát ranh giới sinh thái thông qua phân loại xanh Green Taxonomy, Việt Nam thiết lập kiến trúc kinh tế cần thiết để hấp thụ dòng vốn hàng tỷ USD từ GFANZ và các định chế tài chính toàn cầu một cách an toàn và đúng đích. Thực thi khung quản trị mới đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ rủi ro từ quá trình phi tập trung hóa quyền lực. Luật Đất đai năm 2024 trao quyền chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông, lâm nghiệp quy mô lớn cho Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh. Do đó, việc áp dụng bắt buộc danh mục phân loại xanh kết hợp với giám sát biến động sinh thái thông qua mô hình GTAP-InVEST sẽ ngăn chặn nguy cơ các địa phương chạy theo lợi ích tăng trưởng ngắn hạn mà bỏ qua an ninh sinh thái toàn cục.

Xác lập mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam là một bước tiến mang tính cách mạng cả về cấu trúc vật lý lẫn triết lý điều hành kinh tế vĩ mô. Các bằng chứng thực nghiệm từ các lần kiểm kê không gian quốc gia và của mô hình hệ thống trái đất GTAP-InVEST đã chứng minh bằng những con số định lượng sắc bén: thời kỳ tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên chi trả không định giá nguồn vốn tự nhiên đã đi đến giới hạn vật lý tuyệt đối. Mức thâm hụt sức chứa sinh học -220% và nguy cơ suy giảm 26% GDP vào năm 2030 trong kịch bản BAU khẳng định rằng sự suy thoái dịch vụ hệ sinh thái không còn là một ngoại ứng có thể lờ đi, là một khoản nợ khổng lồ tác động trực tiếp vào tiềm năng tăng trưởng quốc gia.

Để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 với tốc độ tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn tới, hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước đã nhanh chóng kiện toàn một cấu trúc pháp lý và quy hoạch hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay. Từ bản Quy hoạch điện VIII điều chỉnh loại bỏ năng lượng hóa thạch, cơ chế tài chính chuyển đổi JETP, việc chính thức đưa Sàn giao dịch carbon nội địa vào vận hành, Kế hoạch Kinh tế tuần hoàn toàn diện, cho đến công cụ Quy hoạch không gian biển và Danh mục Phân loại xanh làm bộ lọc dòng vốn xanh, đã trực tiếp nội hóa các chi phí môi trường, tái thiết kế cách tổ chức không gian lãnh thổ, từ việc áp dụng phân vùng thổ nhưỡng bảo vệ đất lúa trên bờ đến nguyên tắc đồng vị trí các trụ điện gió ngoài khơi trên biển, và sử dụng cơ chế thị trường để điều tiết hành vi của khối doanh nghiệp.

Với nguyên tắc "không đánh đổi" được khẳng định mạnh mẽ từ Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Việt Nam đang tái định vị, không còn phản ứng thụ động trước cuộc khủng hoảng khí hậu, đang chủ động biến bước ngoặt chuyển đổi thiên nhiên thành một chất xúc tác tối thượng để tiến tới sự thịnh vượng kinh tế bền vững, công bằng và kiên cường. Việc duy trì tính kỷ luật trong thực thi pháp luật, phát huy vai trò của khu vực kinh tế nhà nước, thúc đẩy năng lực hệ thống ngân hàng và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác quốc tế sẽ là bảo chứng để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển mạnh mẽ nằm an toàn bên trong các ranh giới của sinh quyển.

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/kinh-te-nha-nuoc-dan-dat-tang-truong-xanh-180560.html