Kinh tế số cần được đo bằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Kinh tế số Việt Nam đang tăng trưởng nhanh, nhưng theo các chuyên gia, thước đo quan trọng không chỉ là tỷ trọng đóng góp vào GDP mà phải là khả năng tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh thực chất cho doanh nghiệp.

Phát biểu tại diễn đàn kinh doanh “Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới” chiều 14/8 tại Hà Nội, ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhấn mạnh, kinh tế số đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng, góp phần định hình lực lượng sản xuất hiện đại và tạo nền tảng để Việt Nam phát triển trong kỷ nguyên số.

Dẫn số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), ông Nghĩa cho biết tỷ trọng giá trị gia tăng của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương hơn 72 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Kinh tế số Việt Nam đã vươn lên thứ hai tại Đông Nam Á và thuộc nhóm các nền kinh tế số phát triển nhanh.

Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1033 đặt mục tiêu tỷ trọng giá trị gia tăng của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%, hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số, có ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.

Ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Ông Bùi Trung Nghĩa - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Tuy nhiên theo ông Nghĩa, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp, vẫn gặp nhiều khó khăn về tín dụng và nguồn lực để đầu tư máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và AI.

“Thách thức trung tâm đối với phát triển kinh tế số của Việt Nam không nằm ở tốc độ tăng trưởng mà nằm ở khả năng chuyển hóa tăng trưởng đó thành giá trị gia tăng, thành năng suất và thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp”, ông Nghĩa nhìn nhận.

Theo Phó Chủ tịch VCCI, kinh tế số không đơn thuần là ứng dụng công nghệ mà là một hệ sinh thái dựa trên dữ liệu, nền tảng số, AI và tốc độ đổi mới sáng tạo. Vì vậy, chính sách cần linh hoạt hơn, đặc biệt thông qua cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các lĩnh vực mới và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, chuyển đổi quản trị. Đồng thời, cần thu hút mạnh nguồn lực tư nhân vào phát triển hạ tầng số và quản trị số.

Cùng góc nhìn, GS, TS Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, mục tiêu cuối cùng của kinh tế số không chỉ là tăng tỷ trọng kinh tế số trong GDP hay mức độ ứng dụng công nghệ, mà phải tạo ra năng suất cao hơn, sản phẩm và dịch vụ có giá trị hơn, thị trường rộng hơn và năng lực cạnh tranh tốt hơn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

"Cần nhìn vào phần giá trị thực sự được tạo ra và giữ lại cho doanh nghiệp, thay vì chỉ quan tâm quy mô kinh tế số. Bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế số của Việt Nam rất cao, nhưng chưa chắc năng suất và giá trị gia tăng của doanh nghiệp đã tăng tương ứng. Do đó, doanh nghiệp chuyển đổi số phải trả lời được những câu hỏi cụ thể: công nghệ giúp tăng năng suất ra sao, mở thêm thị trường nào, giảm được chi phí bao nhiêu và mang lại hiệu quả gì", ông Cường nêu.

Các đại biểu tham gia thảo luận tại diễn đàn.

Các đại biểu tham gia thảo luận tại diễn đàn.

Từ góc nhìn này, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam chỉ ra 4 nút thắt cần tháo gỡ.

Thứ nhất, chi phí ứng dụng công nghệ chưa tương xứng với hiệu quả mang lại, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Doanh nghiệp phải đầu tư cho nhiều hệ thống số nhưng vẫn phải thực hiện lại các thủ tục, báo cáo hoặc cung cấp cùng một loại thông tin cho nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau. Điều này khiến chi phí số hóa tăng nhưng năng suất chưa được cải thiện tương ứng.

Thứ hai, khả năng hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế. Chuyển đổi số không chỉ là mua phần mềm hay trang bị AI mà phải đi cùng dữ liệu, con người, quản trị và quy trình. Nếu doanh nghiệp vẫn sử dụng phương thức quản trị, ra quyết định và quy trình cũ thì công nghệ dù hiện đại cũng khó tạo ra hiệu quả thực chất. Tương tự, đầu tư AI nhưng thiếu dữ liệu hoặc dữ liệu không được chia sẻ cũng khó phát huy giá trị.

Thứ ba, thiếu kết nối đồng bộ trong hệ sinh thái số. Một doanh nghiệp có thể chuyển đổi số rất mạnh nhưng nếu ngân hàng, cơ quan thuế, đơn vị cung cấp dịch vụ và các hệ thống liên quan vẫn yêu cầu hồ sơ, thông tin theo cách truyền thống thì lợi ích của số hóa bị hạn chế. Theo ông Cường, kinh tế số đòi hỏi sự kết nối mang tính hệ thống, không thể chỉ số hóa riêng lẻ từng doanh nghiệp.

Thứ tư là thiếu hạ tầng dùng chung. Nếu mỗi doanh nghiệp, mỗi cơ quan đều phải tự đầu tư một hệ thống riêng thì chi phí rất lớn, trong khi dữ liệu và các nền tảng lại khó kết nối với nhau. Vì vậy, cần phát triển các hạ tầng số dùng chung để giảm chi phí, tăng khả năng liên thông và nâng cao hiệu quả của quá trình chuyển đổi số.

Từ đó, ông Cường cho rằng đánh giá hiệu quả kinh tế số cần chuyển từ câu hỏi “đã số hóa được bao nhiêu” sang “số hóa tạo thêm bao nhiêu giá trị và năng lực cạnh tranh”. Đây mới là thước đo quan trọng đối với doanh nghiệp và nền kinh tế.

Ở góc độ chính sách, theo ông Nguyễn Hoa Cương - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, chính sách kiến tạo động lực tăng trưởng không chỉ cần đầy đủ về chủ trương mà phải có hướng dẫn thi hành rõ ràng, cơ quan thực thi sẵn sàng hỗ trợ và cơ chế đủ thân thiện để doanh nghiệp dễ tiếp cận. Đồng thời, cần sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước và huy động thêm nguồn lực tư nhân, các tổ chức quốc tế, trong đó doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trọng tâm của quá trình phát triển kinh tế số.

Ở cấp địa phương, TS Nguyễn Huy Công - Viện trưởng Viện Phát triển Công nghệ tiên tiến - Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) kiến nghị hình thành các cơ sở dữ liệu sạch, sống và thống nhất, cùng các nền tảng số dùng chung để kết nối dữ liệu giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Đồng thời, thị trường cũng cần thêm nguồn “vốn kiên nhẫn”, vốn đầu tư mạo hiểm và các nguồn vốn dài hạn để thu hẹp khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường.

Nguyệt Minh

Nguồn Doanh Nghiệp: https://doanhnghiepvn.vn/chuyen-doi-so/kinh-te-so-can-duoc-do-bang-nang-luc-canh-tranh-cua-doanh-nghiep/20260814053546042