Kinh tế tuần hoàn trong khai thác khoáng sản: Từ quản lý chất thải mỏ đến thiết lập vòng đời mới cho tài nguyên

Tạp chí Kinh tế Môi trường giới thiệu bài viết: Kinh tế tuần hoàn trong khai thác khoáng sản: Từ quản lý chất thải mỏ đến thiết lập vòng đời mới cho tài nguyên" của Luật sư Phan Khắc Nghiêm - Công ty Luật TNHH NPK Quốc tế.

Tóm tắt

Kinh tế tuần hoàn trong khai thác khoáng sản không chỉ hướng đến thu hồi, tái sử dụng phần vật chất phát sinh sau khai thác và chế biến. Mục tiêu sâu hơn là giảm nhu cầu khai thác khoáng sản nguyên khai, sử dụng đầy đủ hơn giá trị của tài nguyên, kéo dài vòng đời vật liệu và hạn chế tác động xấu đến môi trường. Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, cùng các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành đã bước đầu mở đường cho việc thu hồi khoáng sản từ đất, đá thải mỏ và quặng đuôi.

Tuy nhiên, cung đường đi từ bãi thải trở lại thị trường vẫn đi qua nhiều lớp quy định về khoáng sản, môi trường, tiêu chuẩn vật liệu và nghĩa vụ tài chính. Bài viết phân tích sự giao nhau đó, nhận diện các điểm còn thiếu rõ ràng và đề xuất cơ chế quản lý dựa trên dòng vật chất.

Cơ chế này phải đồng thời tạo lối ra hợp pháp cho hoạt động tuần hoàn và ngăn việc lợi dụng danh nghĩa xử lý chất thải để khai thác tài nguyên trái phép.

Từ khóa: kinh tế tuần hoàn; khoáng sản; đất đá thải mỏ; quặng đuôi; thu hồi khoáng sản; vật liệu xây dựng.

CIRCULAR ECONOMY IN MINERAL EXTRACTIONFROM MINE WASTE MANAGEMENT TO ESTABLISHING A NEW LIFE CYCLE FOR MINERAL RESOURCES

Abstract

The circular economy in mineral extraction is concerned not only with recovering and reusing materials generated from mining and mineral processing. Its broader objectives are to reduce reliance on primary mineral extraction, make fuller use of resource value, extend the useful life of materials, and limit adverse environmental impacts. Vietnam’s 2024 Law on Geology and Minerals, as amended and supplemented in 2025, together with its implementing regulations, has laid the initial legal foundation for recovering minerals from mine waste rock and tailings. However, the pathway from waste storage facilities back to the market remains subject to multiple layers of regulation concerning minerals, environmental protection, material standards, and financial obligations. This article examines the interaction among these regulatory areas, identifies provisions that require further clarification, and proposes a material-flow-based regulatory framework. Such a framework should provide a lawful pathway for circular practices while preventing waste treatment from being used as a pretext for unlawful mineral extraction.

Keywords: circular economy; minerals; mine waste rock; tailings; mineral recovery; construction materials.

1. Đặt vấn đề

Một mỏ khoáng sản thường được nhìn bằng hai mốc: ngày bắt đầu khai thác và ngày đóng cửa mỏ. Cách nhìn ấy phù hợp với một chu trình tuyến tính. Tài nguyên được lấy lên, phần có ích đưa vào sản xuất, phần còn lại được đưa ra bãi thải hoặc hồ chứa. Khi sản phẩm hoàn thành và mỏ đóng cửa, câu chuyện pháp lý dường như cũng kết thúc.

Khai thác khoáng sản (ảnh minh họa).

Khai thác khoáng sản (ảnh minh họa).

Trên thực tế lại không đơn giản như vậy. Trong đất, đá thải mỏ và quặng đuôi có thể còn khoáng sản có ích. Một số vật chất sau tuyển, rửa hoặc xử lý có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, san lấp hoặc phục vụ một ngành công nghiệp khác. Công nghệ mới còn có thể làm cho phần từng bị xem là không có giá trị trở thành nguồn cung có khả năng khai thác. Bãi thải vì thế vừa là nơi chứa rủi ro môi trường, vừa có thể là nơi lưu giữ một phần tài nguyên chưa được sử dụng hết.

Điều 142 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 xác định kinh tế tuần hoàn là mô hình nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm tác động xấu đến môi trường [1]. Đặt vào ngành khai khoáng, bốn mục tiêu này phải được đo bằng sự thay đổi thực tế: lượng khoáng sản nguyên khai được thay thế; khối lượng đất đá thải, quặng đuôi được giảm; thời gian vật liệu tiếp tục tồn tại trong chuỗi sản xuất; và mức tác động môi trường được cắt giảm. Nếu chỉ bán phần thải bỏ mà không chứng minh được những thay đổi đó, hoạt động ấy chưa chắc đã mang bản chất của kinh tế tuần hoàn.

Khung pháp luật mới đã ghi nhận hoạt động thu hồi khoáng sản và đặt yêu cầu ưu tiên thu hồi tối đa khoáng sản có ích theo tiêu chí kinh tế tuần hoàn. Đây là bước tiến đáng kể. Vấn đề còn lại là làm sao nối được quy định ấy với quản lý chất thải, tiêu chuẩn sản phẩm, đầu ra của vật liệu và các nghĩa vụ tài chính. Bài viết tập trung vào mắt xích này. Phạm vi nghiên cứu không bao gồm toàn bộ chính sách kinh tế tuần hoàn của ngành khoáng sản, mà đi sâu vào cơ chế đưa đất, đá thải mỏ, quặng đuôi và phần vật chất sau xử lý trở lại hoạt động kinh tế một cách hợp pháp, an toàn và có thể kiểm chứng.

Từ góc nhìn của người hành nghề thường xuyên tiếp cận hồ sơ vụ việc về khoáng sản, điểm khó không nằm ở việc tìm một điều luật cho phép hay cấm đoán mà một phương án thu hồi thường phải được đọc đồng thời trong hồ sơ địa chất, thiết kế khai thác, phương án bảo vệ môi trường, sổ theo dõi sản lượng, chứng từ vận chuyển và hồ sơ đầu ra của vật liệu. Chỉ cần tách một tài liệu khỏi chuỗi này, thì cùng một khối đất đá có thể sẽ bị hiểu khác nhau. Vì vậy, bài viết sử dụng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp đối chiếu liên ngành, đặt quy định vào các tình huống vận hành mỏ và tham chiếu có chọn lọc pháp luật của Liên minh châu Âu.

2. Nội hàm kinh tế tuần hoàn trong hoạt động khoáng sản

Khoáng sản khác với nhiều loại nguyên liệu khác ở chỗ trữ lượng trong tự nhiên là hữu hạn và quá trình hình thành thường vượt xa thời gian của một đời người. Vì vậy, kéo dài vòng đời tài nguyên không có nghĩa là làm cho khoáng sản tự tái sinh. Ý nghĩa của tuần hoàn nằm ở việc sử dụng đầy đủ hơn giá trị đã được lấy ra khỏi lòng đất, giảm lượng tài nguyên mới phải khai thác cho cùng một nhu cầu của xã hội.

Có thể nhận diện ba vòng tuần hoàn trong hoạt động khoáng sản. Vòng thứ nhất diễn ra ngay trong mỏ và nhà máy hay dây chuyền chế biến: nâng tỷ lệ thu hồi khoáng sản chính, thu hồi khoáng sản đi kèm, tái sử dụng nước và đưa vật liệu chưa đạt yêu cầu trở lại công đoạn phù hợp. Vòng thứ hai là kết nối mỏ với ngành sản xuất khác: đất đá hoặc phần còn lại sau chế biến được kiểm tra, xử lý và sử dụng làm nguyên liệu, vật liệu. Vòng thứ ba xuất hiện ở cuối vòng đời sản phẩm: kim loại, vật liệu hoặc cấu kiện được tái chế để thay thế một phần khoáng sản nguyên khai. Bài viết chủ yếu bàn về hai vòng đầu vì đây là nơi pháp luật khoáng sản có sự giao thoa trực tiếp với pháp luật môi trường.

Cách tiếp cận này cũng cho thấy một giới hạn quan trọng. Không phải mọi sự tận dụng đều tốt hơn về môi trường. Việc nghiền, tuyển lại hoặc vận chuyển quặng đuôi có thể tiêu thụ nhiều năng lượng, phát sinh bụi, nước thải và một lượng chất thải mới. Đất đá thải có thành phần bất lợi không thể trở thành vật liệu chỉ vì có người mua. Do đó, một hoạt động chỉ nên được ghi nhận là tuần hoàn khi lợi ích tài nguyên và môi trường được đánh giá trong cả quá trình, thay vì chỉ tính phần vật chất rời khỏi bãi thải.

Từ đây, bốn tiêu chí có thể dùng làm thước đo. Thứ nhất, hoạt động có thay thế được một lượng nguyên liệu nguyên khai xác định hay không. Thứ hai, tổng lượng chất thải và diện tích lưu chứa có thực sự giảm hay chỉ chuyển sang địa điểm khác. Thứ ba, sản phẩm sau xử lý có công dụng cho thị trường và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, môi trường hay không. Thứ tư, năng lượng, nước và phát thải phát sinh thêm có được tính đến hay không. Đây cũng là cơ sở để thiết kế ưu đãi và kiểm soát pháp lý.

3. Khung pháp luật hiện hành và bước chuyển trong tư duy quản lý

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đặt nền móng chung cho kinh tế tuần hoàn. Điều 142 yêu cầu lồng ghép kinh tế tuần hoàn vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quản lý, tái sử dụng, tái chế chất thải. Các điều 138, 139 và 140 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung, cụ thể hóa tiêu chí, trách nhiệm và cơ chế khuyến khích [2]. Khung này hướng tới giảm sử dụng tài nguyên không tái tạo, kéo dài thời gian sử dụng vật liệu, hạn chế chất thải và tác động môi trường.

Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035 tiếp tục đặt yêu cầu sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tận dụng nguyên liệu và vật liệu đã qua sử dụng, phát triển chuỗi giá trị mới. Với ngành khoáng sản, định hướng này đòi hỏi pháp luật phải theo được vật chất từ khi rời thân quặng đến khi trở thành sản phẩm, chất thải hoặc nguyên liệu của một chu trình khác.

Trong lĩnh vực chuyên ngành, Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 và đã được Luật số 147/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung [3], [4]. Luật dành Chương VIII, gồm Điều 75 và Điều 76, để quy định về thu hồi khoáng sản. Sự ghi nhận này giúp phân biệt thu hồi khoáng sản với khai thác theo giấy phép thông thường và với khai thác tận thu. Đây không chỉ là thay đổi về thủ tục. Nó phản ánh việc pháp luật bắt đầu quan tâm đến phần tài nguyên xuất hiện trong quá trình cải tạo, xây dựng hoặc nằm trong những dòng vật chất đã hình thành từ hoạt động khai thác.

Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định số 21/2026/NĐ-CP, giải thích đất đá thải mỏ và quy định cụ thể hơn về thu hồi khoáng sản [5], [6]. Đáng chú ý, Điều 69 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP đặt nguyên tắc ưu tiên thu hồi tối đa khoáng sản có ích theo tiêu chí kinh tế tuần hoàn và điều chỉnh việc thu hồi từ đất, đá thải mỏ, quặng đuôi. Thông tư số 36/2025/TT-BNNMT, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 63/VBHN-BNNMT năm 2026, quy định về khai thác, khai thác tận thu và thu hồi khoáng sản, bổ sung lớp quy trình và hồ sơ kỹ thuật cho việc thực hiện [7].

Cấu trúc này cho thấy một điểm dễ nhầm trong thực tiễn. Thu hồi khoáng sản không phải tên gọi mới của mọi hoạt động lấy vật chất ra khỏi khu vực mỏ. Muốn xác định đúng thủ tục, trước hết phải làm rõ nguồn hình thành vật chất, vị trí tồn tại, hoạt động làm phát sinh việc thu hồi và loại khoáng sản dự kiến thu được. Chỉ nhìn vào công dụng cuối cùng, chẳng hạn dùng để san lấp, sẽ không đủ để xác định bản chất pháp lý của hoạt động ở công đoạn đầu.

Ở đầu ra, Nghị định số 209/2026/NĐ-CP về quản lý vật liệu xây dựng thể hiện hướng khuyến khích tận dụng đất, đá thải mỏ để sản xuất vật liệu xây dựng [9]. Quy định này có ý nghĩa vì tuần hoàn chỉ hoàn tất khi vật chất có thể đi vào một mục đích sử dụng hợp pháp. Nếu pháp luật khoáng sản cho phép thu hồi nhưng pháp luật về sản phẩm và xây dựng không xác định được điều kiện sử dụng, vật chất vẫn dừng ở cửa mỏ.

Nhìn tổng thể, pháp luật hiện hành đã có ba mảnh ghép: mục tiêu tuần hoàn trong pháp luật môi trường; cơ chế thu hồi trong pháp luật khoáng sản; và hướng mở đầu ra trong pháp luật vật liệu xây dựng. Khoảng cần tiếp tục hoàn thiện nằm ở đường nối giữa ba mảnh ghép ấy. Một doanh nghiệp cần biết rõ vật chất đang quản lý là chất thải, khoáng sản được thu hồi, nguyên liệu hay sản phẩm; thủ tục nào làm thay đổi địa vị đó; và từ thời điểm nào có thể chuyển giao cho chủ thể khác.

4. Một dòng vật chất qua nhiều cách định danh pháp lý

Đất đá thải mỏ và quặng đuôi được hình thành từ quá trình khai thác, tuyển hoặc chế biến, nhưng không vì thế mà mọi khối vật chất đều giống nhau. Có phần còn chứa khoáng sản có ích; có phần phù hợp làm vật liệu sau khi kiểm tra; có phần mang yếu tố nguy hại và phải được quản lý nghiêm ngặt. Nếu chỉ gọi chung là chất thải mỏ, cơ chế quản lý sẽ quá rộng. Nếu vội gọi tất cả là tài nguyên thứ cấp, nguy cơ hạ thấp yêu cầu bảo vệ môi trường lại xuất hiện.

Thuật ngữ tài nguyên khoáng sản thứ cấp có giá trị phân tích nhưng chưa nên được dùng như một khái niệm pháp định đã hoàn chỉnh. Trong bài viết này, thuật ngữ đó chỉ phần vật chất đã phát sinh từ hoạt động trước đây, còn chứa thành phần có ích hoặc có khả năng thay thế nguyên liệu nguyên khai sau khi đáp ứng điều kiện pháp luật. Cách gọi không tự làm thay đổi chế độ quản lý. Sự thay đổi phải dựa trên kết quả phân loại, đánh giá thành phần, phương án công nghệ, mục đích sử dụng và xác nhận của cơ quan có thẩm quyền khi pháp luật yêu cầu.

Khó khăn thực tế nằm ở thời điểm chuyển đổi. Khi còn trong bãi thải, vật chất chịu nghĩa vụ quản lý môi trường và an toàn bãi thải. Khi được bóc xúc để thu hồi khoáng sản, hoạt động lại đi vào phạm vi của pháp luật khoáng sản. Sau tuyển, phần đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cho một mục đích cụ thể có thể trở thành nguyên liệu hoặc hàng hóa; phần không đạt vẫn phải được quản lý theo tính chất của nó. Một lô vật chất vì vậy có thể tách thành nhiều dòng với địa vị pháp lý khác nhau. Người rà soát hồ sơ phải theo từng dòng, không thể lấy tên gọi của cả bãi thải để suy ra địa vị của mọi phần vật chất bên trong.

Pháp luật cần quản lý sự chuyển đổi này bằng chứng cứ, không bằng tên gọi do doanh nghiệp tự đặt. Hồ sơ cần trả lời được vật chất đến từ đâu, có khối lượng và thành phần nào, đã qua công đoạn xử lý gì, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật nào và sẽ được sử dụng ở đâu. Khi thiếu chuỗi thông tin đó, cơ quan quản lý khó phân biệt một mô hình tuần hoàn thực sự với việc đưa đất đá hoặc khoáng sản ra thị trường dưới tên gọi khác.

5. Những điểm nghẽn cản trở vòng tuần hoàn

Thứ nhất, tiêu chí chuyển từ chất thải sang nguyên liệu hoặc sản phẩm còn phân tán. Khung pháp luật môi trường quy định nguyên tắc quản lý, tái sử dụng và tái chế; pháp luật khoáng sản điều chỉnh phần khoáng sản được thu hồi; pháp luật xây dựng quan tâm đến chất lượng vật liệu. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn cần một bộ tiêu chí đủ rõ để xác định thời điểm chấm dứt chế độ quản lý chất thải đối với từng dòng vật chất và trách nhiệm của chủ thể xác nhận.

Thứ hai, thủ tục đang được tổ chức theo từng lĩnh vực trong khi dòng vật chất đi qua nhiều lĩnh vực. Phương án thu hồi có thể liên quan đến giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản, hồ sơ môi trường, thiết kế bãi thải, an toàn công trình và tiêu chuẩn vật liệu. Mỗi thủ tục có lý do riêng, nhưng thiếu cơ chế phối hợp sẽ làm tăng thời gian, chi phí và nguy cơ các cơ quan đưa ra yêu cầu khác nhau cho cùng một khối vật chất. Đây cũng là lý do không nên tư vấn một dự án thu hồi chỉ bằng cách kiểm tra giấy phép khoáng sản; hồ sơ đầu ra và phần chất thải còn lại có thể quyết định tính khả thi của cả phương án.

Thứ ba, quyền đối với vật chất trong bãi thải chưa phải lúc nào cũng dễ xác định. Bãi thải của mỏ đang hoạt động khác với bãi thải thuộc mỏ đã đóng cửa; bãi thải do một doanh nghiệp tạo ra khác với khu vực đã chuyển giao đất hoặc có nhiều chủ thể quản lý qua các thời kỳ. Quyền tiếp cận, thu hồi và hưởng giá trị kinh tế cần đi cùng trách nhiệm xử lý phần còn lại và phục hồi môi trường. Nếu chỉ trao quyền lấy phần có giá trị, Nhà nước và cộng đồng có thể tiếp tục gánh phần rủi ro.

Thứ tư, đầu ra của vật liệu chưa ổn định. Một vật chất có khả năng sử dụng về mặt kỹ thuật chưa đồng nghĩa với việc được phép sử dụng cho mọi công trình. Yêu cầu về quy chuẩn, tiêu chuẩn, chứng nhận hợp quy, nguồn gốc, thiết kế công trình và trách nhiệm chất lượng phải được xác định theo từng mục đích. Thiếu đầu ra hợp pháp khiến doanh nghiệp không đủ cơ sở đầu tư công nghệ xử lý, dù hoạt động thu hồi đã được chấp thuận.

Thứ năm, nghĩa vụ tài chính có thể làm sai lệch động lực tuần hoàn. Khoáng sản được thu hồi có giá trị kinh tế và không thể nằm ngoài nghĩa vụ với Nhà nước. Tuy nhiên, chi phí xử lý bãi thải, phân loại, khử tạp chất và phục hồi môi trường thường cao hơn khai thác vật chất đã được xác định rõ. Nếu cơ chế tài chính không phản ánh phần chi phí này, doanh nghiệp có thể chọn tiếp tục lưu chứa thay vì thu hồi. Ngược lại, ưu đãi quá rộng có thể tạo động lực biến khai thác mới thành thu hồi trên giấy tờ.

Thứ sáu, ranh giới xử lý vi phạm cần được nhận diện theo bản chất. Hoạt động thu hồi không có xác nhận hoặc vượt phạm vi được chấp thuận có thể xâm phạm trật tự quản lý khoáng sản. Nhưng khi xem xét trách nhiệm, cần phân biệt lỗi thủ tục có thể khắc phục với hành vi có chủ đích chiếm đoạt tài nguyên, che giấu sản lượng hoặc gây hậu quả môi trường. Việc phân định phải dựa vào nguồn gốc vật chất, phạm vi bóc xúc, loại khoáng sản, sản lượng thực tế, hồ sơ theo dõi và mục đích của chủ thể. Một chi tiết thường có giá trị hơn nhiều lời giải thích là sự phù hợp giữa mặt cắt hiện trạng, nhật ký vận hành, khối lượng qua cân và chứng từ đầu ra. Danh nghĩa kinh tế tuần hoàn không thể miễn trừ vi phạm; đồng thời, thiếu sót thủ tục cũng không nên tự động bị đồng nhất với mọi dạng khai thác trái phép.

6. Kinh nghiệm tham chiếu từ Liên minh châu Âu

Quy định của Liên minh châu Âu về nguyên liệu thô thiết yếu năm 2024 đặt chính sách khoáng sản trong cả chuỗi cung ứng gồm khai thác, chế biến và tái chế. Điều 5 của Quy định (EU) 2024/1252 đặt chuẩn năng lực đến năm 2030, trong đó năng lực tái chế phải đáp ứng ít nhất 25% mức tiêu thụ hằng năm đối với nguyên liệu thô chiến lược. Điều 26 yêu cầu các quốc gia thành viên xây dựng chương trình thúc đẩy tuần hoàn, thu thập thông tin về chất thải khai khoáng có khả năng chứa nguyên liệu thô thiết yếu và đánh giá khả năng thu hồi từ cơ sở đang hoạt động cũng như đã đóng cửa [10].

Điểm đáng tham khảo không nằm ở con số 25%, bởi điều kiện tài nguyên và công nghiệp của Việt Nam khác EU. Giá trị lớn hơn là cách quản lý dựa trên dữ liệu. Muốn đưa chất thải khai khoáng trở lại chuỗi cung ứng, trước hết phải biết bãi thải ở đâu, hình thành từ loại quặng nào, có thành phần gì, khối lượng ra sao và khả năng thu hồi bằng công nghệ hiện có. Khi thông tin chưa đầy đủ, ưu đãi tài chính dễ đi trước khả năng kiểm soát.

EU cũng không tách mục tiêu cung ứng nguyên liệu khỏi trách nhiệm môi trường. Chỉ thị 2006/21/EC tiếp tục đặt yêu cầu riêng đối với quản lý chất thải từ công nghiệp khai thác, trong đó có kế hoạch quản lý chất thải và phòng ngừa sự cố [11]. Kinh nghiệm này phù hợp với Việt Nam: cơ chế rút gọn thủ tục chỉ nên áp dụng khi rủi ro đã được nhận diện, dữ liệu có thể kiểm chứng và sản phẩm có đầu ra rõ ràng. Đơn giản hóa không có nghĩa là bỏ qua một lớp kiểm soát cần thiết.

7. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Một là, xây dựng bộ tiêu chí phân loại theo dòng vật chất. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần phối hợp với Bộ Xây dựng và Bộ Khoa học và Công nghệ xác định nhóm vật chất có khả năng thu hồi khoáng sản, nhóm có thể sử dụng trực tiếp hoặc sau xử lý làm nguyên liệu, nhóm phải tiếp tục quản lý như chất thải và nhóm có yếu tố nguy hại. Tiêu chí cần gắn với thành phần, mức độ ô nhiễm, công dụng dự kiến và quy chuẩn kỹ thuật, thay vì chỉ dựa vào nơi phát sinh.

Hai là, quy định rõ điều kiện chấm dứt chế độ quản lý chất thải đối với vật chất sau xử lý. Vật chất chỉ nên được chuyển thành nguyên liệu hoặc sản phẩm khi có mục đích sử dụng cụ thể; đáp ứng quy chuẩn, tiêu chuẩn tương ứng; không làm tăng rủi ro cho sức khỏe và môi trường; có khả năng truy xuất nguồn gốc; và có chủ thể chịu trách nhiệm về chất lượng. Việc đáp ứng điều kiện cần được chứng minh bằng hồ sơ kỹ thuật hoặc xác nhận phù hợp với mức độ rủi ro.

Ba là, thiết lập hồ sơ dòng vật chất điện tử. Hồ sơ nên ghi nhận nguồn gốc bãi thải, khối lượng đầu vào, thành phần, công nghệ xử lý, tỷ lệ thu hồi, phần chất thải còn lại, điểm đến và chứng từ giao nhận. Dữ liệu này cần liên thông với cơ sở dữ liệu địa chất, khoáng sản và hệ thống quản lý môi trường. Cơ quan quản lý nhờ đó có thể đối chiếu sản lượng thu hồi với hiện trạng bãi thải và đầu ra thực tế, giảm phụ thuộc vào báo cáo một chiều của doanh nghiệp.

Bốn là, tổ chức thủ tục theo một phương án tích hợp. Đối với dự án thu hồi từ đất, đá thải mỏ hoặc quặng đuôi, hồ sơ kỹ thuật nên đồng thời thể hiện phương án thu hồi khoáng sản, quản lý phần thải còn lại, an toàn bãi thải, mục đích sử dụng sản phẩm và phục hồi môi trường. Một cơ quan đầu mối tiếp nhận và lấy ý kiến các cơ quan chuyên môn sẽ giúp giảm việc yêu cầu doanh nghiệp nộp lại cùng một dữ liệu, nhưng vẫn giữ đầy đủ nội dung thẩm định.

Năm là, gắn quyền thu hồi với trách nhiệm đối với toàn bộ bãi thải. Quyết định cho phép thu hồi cần xác định ai chịu trách nhiệm về ổn định bãi thải, ô nhiễm tồn lưu, phần vật chất không có giá trị và phục hồi mặt bằng. Trường hợp mỏ đã đóng cửa hoặc chủ thể cũ không còn hoạt động, cần có cơ chế lựa chọn nhà đầu tư minh bạch và yêu cầu bảo đảm tài chính. Không nên để chủ thể mới chỉ nhận phần lợi ích còn phần nghĩa vụ tiếp tục treo lại.

Sáu là, điều chỉnh nghĩa vụ tài chính theo giá trị thực thu và lợi ích môi trường được chứng minh. Khoáng sản thu hồi vẫn phải được kê khai, đo đếm và thực hiện nghĩa vụ theo luật. Tuy nhiên, khi xây dựng chính sách thuế, phí và tiền cấp quyền, cần xem xét đặc điểm của nguồn vật chất thứ cấp, chi phí xử lý và giá trị phục hồi môi trường. Có thể áp dụng cơ chế khấu trừ hoặc hỗ trợ cho phần chi phí môi trường hợp lý, nhưng chỉ khi khối lượng, công nghệ và kết quả đầu ra được xác nhận. Cơ chế này tránh đánh đồng thu hồi bãi thải với khai thác nguyên khai mà không tạo ra một vùng miễn trừ thiếu kiểm soát.

Bảy là, lượng hóa kết quả tuần hoàn trong dự án khai thác và đóng cửa mỏ. Báo cáo định kỳ nên có các chỉ số về tỷ lệ thu hồi khoáng sản chính và đi kèm; khối lượng nguyên liệu nguyên khai được thay thế; tỷ lệ đất đá thải, quặng đuôi được giảm; diện tích lưu chứa được thu hẹp; lượng nước và năng lượng sử dụng; cùng khối lượng chất thải mới phát sinh. Chỉ số phải có đường cơ sở để so sánh. Nhờ đó, cơ quan nhà nước có căn cứ đánh giá một dự án có tạo ra lợi ích tuần hoàn thực tế hay chỉ thay đổi tên gọi của hoạt động tiêu thụ chất thải.

Tám là, làm rõ ranh giới trách nhiệm pháp lý. Văn bản hướng dẫn xử lý vi phạm nên xác định các dấu hiệu phân biệt giữa sai sót trong thực hiện phương án thu hồi và hành vi lợi dụng thu hồi để khai thác trái phép. Những dấu hiệu cần xem xét gồm vị trí bóc xúc, nguồn gốc vật chất, loại khoáng sản, phương pháp thực hiện, sản lượng chênh lệch, việc che giấu chứng từ, lợi ích thu được và hậu quả môi trường. Cách tiếp cận dựa trên chuỗi chứng cứ sẽ bảo vệ trật tự quản lý mà không cản trở chủ thể tuân thủ đầu tư vào công nghệ tuần hoàn.

8. Kết luận

Kinh tế tuần hoàn trong khai thác khoáng sản bắt đầu từ một câu hỏi rất cụ thể: phần vật chất đã được đưa ra khỏi lòng đất sẽ đi đâu và còn phục vụ được gì?. Qua thực tiễn nghiên cứu và rà soát hồ sơ khoáng sản, có thể thấy câu trả lời không nằm ở một giấy phép riêng lẻ. Hoạt động tuần hoàn chỉ hình thành khi nguồn vật chất, phương án thu hồi, phần còn lại sau xử lý và đầu ra được nối với nhau bằng một chuỗi dữ liệu có thể kiểm tra. Khi đó, việc đưa đất đá ra khỏi bãi thải mới có khả năng làm giảm khai thác nguyên khai và giảm gánh nặng môi trường, thay vì chỉ chuyển vật chất sang một địa điểm khác.

Pháp luật Việt Nam đã có bước chuyển quan trọng khi ghi nhận thu hồi khoáng sản, đặt tiêu chí kinh tế tuần hoàn và mở hướng sử dụng đất đá thải mỏ cho vật liệu xây dựng. Việc cần làm tiếp theo là nối các quy định thành một cơ chế thống nhất theo dòng vật chất. Mỗi lần vật chất thay đổi địa vị, từ chất thải sang khoáng sản được thu hồi, từ phần sau xử lý sang nguyên liệu hoặc sản phẩm, phải có tiêu chí, dữ liệu và chủ thể chịu trách nhiệm rõ ràng.

Một hành lang quá hẹp sẽ khiến tài nguyên còn giá trị tiếp tục nằm trong bãi thải. Một hành lang quá rộng lại có thể biến kinh tế tuần hoàn thành tấm áo cho hoạt động khai thác ngoài kiểm soát. Điểm cân bằng nằm ở khả năng đo đếm và truy xuất: tạo lối đi cho vật chất nhưng không để trách nhiệm bị bỏ lại phía sau.

Luật sư Phan Khắc Nghiêm

Công ty Luật TNHH NPK Quốc tế

Tài liệu tham khảo:

[1] Quốc hội, Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020, Điều 142, hiệu lực từ ngày 01/01/2022.

[2] Chính phủ, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, các điều 138, 139 và 140; được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025.

[3] Quốc hội, Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15 ngày 29/11/2024, hiệu lực từ ngày 01/7/2025.

[4] Quốc hội, Luật số 147/2025/QH15 ngày 11/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản, hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

[5] Chính phủ, Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 02/7/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, khoản 2 Điều 3 và Điều 69.

[6] Chính phủ, Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP, hiệu lực từ ngày 16/01/2026.

[7] Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Thông tư số 36/2025/TT-BNNMT ngày 02/7/2025 quy định về khai thác khoáng sản, khai thác tận thu khoáng sản và thu hồi khoáng sản; được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 63/VBHN-BNNMT ngày 08/6/2026.

[8] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035.

[9] Chính phủ, Nghị định số 209/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xây dựng về quản lý vật liệu xây dựng, hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

[10] European Parliament and Council, Regulation (EU) 2024/1252 of 11 April 2024 establishing a framework for ensuring a secure and sustainable supply of critical raw materials, OJ L, 2024/1252, 03.5.2024, Articles 5 and 26, ELI: http://data.europa.eu/eli/reg/2024/1252/oj.

[11] European Parliament and Council, Directive 2006/21/EC of 15 March 2006 on the management of waste from extractive industries and amending Directive 2004/35/EC, OJ L 102, 11.4.2006, pp. 15–34, ELI: http://data.europa.eu/eli/dir/2006/21/oj.

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/kinh-te-tuan-hoan-trong-khai-thac-khoang-san-tu-quan-ly-chat-thai-mo-den-thiet-lap-vong-doi-moi-cho-tai-nguyen-118489.html