Đường sắt đô thị: Từ hạ tầng giao thông đến động lực phát triển công nghệ cao
Phát triển metro và đường sắt tốc độ cao không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông mà còn mở ra cơ hội để Việt Nam phát triển hệ sinh thái công nghiệp cao nội địa.
Đường sắt đô thị không chỉ được xem là giải pháp vận tải khối lượng lớn mà còn là một hệ thống công nghệ tích hợp, phản ánh năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước.
Đến nay, nhiều quốc gia đã chuyển từ tư duy mở rộng hạ tầng đường bộ sang xây dựng hệ thống vận tải công cộng lấy đường sắt đô thị làm trung tâm. Tại Tokyo, Seoul, Singapore hay Paris, metro không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại mà còn góp phần tổ chức lại không gian đô thị, thúc đẩy phát triển kinh tế, công nghệ và giảm phát thải.

Metro là “xương sống” của đô thị thông minh.
Đường sắt là “xương sống” của đô thị thông minh
Tại Việt Nam, đường sắt đô thị mới ở giai đoạn đầu nhưng đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh. Hà Nội hiện có tuyến Cát Linh - Hà Đông và đoạn Nhổn - Ga Hà Nội, trong khi TP.HCM đang khai thác tuyến metro số 1 và chuẩn bị triển khai các tuyến tiếp theo.
Theo định hướng quy hoạch, Hà Nội dự kiến phát triển gần 1.000 km đường sắt đô thị với khoảng 18 tuyến. Còn TP.HCM đặt mục tiêu hoàn thành gần 200 km đường sắt đô thị trong giai đoạn 2025 - 2030, đến năm 2045 hoàn thành khoảng 18-19 tuyến với tổng chiều dài 700 km và sau năm 2050 phát triển mạng lưới trên 1.000 km.
Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy các dự án đường sắt đô thị vẫn đối mặt với những thách thức về tiến độ, nguồn vốn, quản lý dự án phức tạp, sự đồng bộ giữa quy hoạch đô thị và giao thông, cũng như mức độ phụ thuộc vào công nghệ và nhân lực nước ngoài.

Tuyến Metro Nhổn - Ga Hà Nội góp phần thúc đẩy giao thông công cộng.
Khi Việt Nam chuẩn bị đầu tư đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và mở rộng tuyến metro tại Hà Nội và TP.HCM, yêu cầu này càng trở nên lớn hơn. Với quy mô và yêu cầu kỹ thuật cao, dự án không chỉ cần hệ thống hạ tầng đồng bộ mà còn có thể tạo ra thị trường cho nhiều ngành công nghiệp, từ sản xuất đầu máy, toa xe, tín hiệu điều khiển đến vật liệu, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI).
Chia sẻ tại tọa đàm “Đường sắt đô thị Việt Nam: Công nghệ và vận hành thông minh”, ThS Lê Thanh Dương, Tổng công ty Tư vấn thiết kế GTVT, cho biết trên thế giới, đường sắt đô thị không chỉ là phương tiện giao thông mà đã trở thành “xương sống” của đô thị thông minh, tích hợp giữa giao thông, công nghệ, dữ liệu và không gian đô thị. Các mô hình hiện đại cũng đang chuyển mạnh sang tự động hóa và quản trị số.
Theo ông, nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia phát triển, như Trung Quốc, Nhật Bản… không nhằm sao chép mô hình mà giúp Việt Nam lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật và quy hoạch đô thị. Qua đó, Việt Nam có thể từng bước tiếp cận và làm chủ các công nghệ cốt lõi, tạo nền tảng cho hệ thống metro trong tương lai.
Nội địa hóa 30 - 40% hệ thống đường sắt đô thị
Ông Phan Công Bằng, Trưởng Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP.HCM, cho rằng nội địa hóa cần được xem là một tiêu chí quan trọng khi triển khai các dự án đường sắt.
Thành phố cần tạo điều kiện để nhà thầu trong nước từng bước tham gia và làm chủ công nghệ, dù đây vẫn là lĩnh vực Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm, đặc biệt với thi công hệ thống đường sắt đô thị ngầm.
“Nếu không mạnh dạn nội địa hóa, doanh nghiệp trong nước sẽ mãi chỉ dừng lại ở vai trò nhà thầu phụ”, ông Bằng nói.
Theo ông, việc lựa chọn và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia các dự án lớn là yêu cầu cần thiết để hình thành năng lực trong nước. Quá trình này không chỉ giúp giảm phụ thuộc vào bên ngoài mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trong xây lắp, vận hành và bảo trì hệ thống sau này.

TP.HCM cũng đặt mục tiêu nội địa hóa khoảng 30 - 40% hệ thống đường sắt đô thị.
Tương tự, ông Ngô Anh Vũ, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch Xây dựng TP.HCM, nhận định nếu chỉ triển khai một tuyến đường sắt đô thị, mức độ phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài có thể chưa bộc lộ rõ. Tuy nhiên, với mục tiêu phát triển mạng lưới đa tuyến, việc từng bước tự chủ công nghệ trở thành yêu cầu cấp thiết.
Khi doanh nghiệp trong nước có thể tham gia sản xuất toa xe, đường ray, phát triển hệ thống vận hành và các hạng mục kỹ thuật khác, các dự án đường sắt sẽ tạo thêm thị trường cho công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế tạo và các lĩnh vực liên quan.
Trong khoảng 5 năm tới, TP.HCM đặt mục tiêu hình thành đội ngũ nhà thầu trong nước có khả năng làm chủ công tác thi công đường sắt đô thị. Thành phố cũng từng bước giảm phụ thuộc vào tư vấn nước ngoài thông qua yêu cầu liên danh, chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân sự cho phía Việt Nam.
TP.HCM cũng đặt mục tiêu nội địa hóa khoảng 30 - 40% hệ thống đường sắt đô thị. Nếu thực hiện được, các dự án metro không chỉ góp phần giải quyết bài toán giao thông mà còn tạo thêm thị trường cho doanh nghiệp trong nước phát triển năng lực công nghệ và công nghiệp hỗ trợ.
Theo định hướng của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, công nghệ đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị phù hợp với yêu cầu hình thành ngành công nghiệp mới, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường tự chủ ở các lĩnh vực hạ tầng then chốt.
Trên cơ sở đó, Công nghệ đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị được đưa vào Danh mục công nghệ chiến lược quốc gia. Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng đường sắt tốc độ cao không chỉ là công nghệ giao thông mà là một cụm công nghệ tích hợp, gồm hạ tầng, vật liệu, xây dựng, thông tin tín hiệu, điện - sức kéo, điều khiển, phương tiện và bảo trì vận hành.
Với quy mô lớn của dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, Bộ KH&CN cho rằng đây là không gian đủ lớn để Việt Nam tiếp nhận, làm chủ công nghệ và từng bước hình thành ngành công nghiệp đường sắt.


