Kỷ niệm 105 năm ngày sinh Chủ tịch Lê Quang Đạo (8/8/1921 - 8/8/2026): Những kỷ niệm không quên
Chủ tịch Lê Quang Đạo là nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và nhân dân ta, nhà hoạt động chính trị - xã hội nổi tiếng, nhà lý luận có tên tuổi. Tôi có may mắn được biết anh từ lâu, hồi tôi còn làm thư ký cho đồng chí Hoàng Quốc Việt, nhưng thực sự hiểu và càng thêm ngưỡng mộ là từ khi anh về chuyên trách công tác Mặt trận.

Lần đầu tiên tôi được trực tiếp làm việc với anh là những tháng cuối năm 1982 và quý 1 năm 1983 khi Đảng đoàn Mặt trận Trung ương được giao trách nhiệm giúp Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) mà anh là người vừa được phân công thay đồng chí Xuân Thủy phụ trách công tác Dân vận - Mặt trận và trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị Chỉ thị “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới”.
Đây là Chỉ thị đầu tiên của Đảng ta đối với việc lãnh đạo công tác Mặt trận sau khi thống nhất ba tổ chức Mặt trận ở hai miền vào đầu năm 1977: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam. Đây cũng là chỉ thị đầu tiên của Ban Bí thư về công tác vận động quần chúng nhằm triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng với yêu cầu phải thể hiện rõ tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Công tác Mặt trận là công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng” và “nêu cao truyền thống đoàn kết toàn dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, các nhân sĩ hăng hái tham gia các phong trào cách mạng, xây dựng và củng cố chính quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần của xã hội ta, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc” mà Nghị quyết Đại hội V đã đề ra.
Theo gợi ý của đồng chí Lê Quang Đạo, Ban chỉ đạo dự thảo Chỉ thị được thành lập từ đầu năm 1982 gồm các đồng chí: Xuân Thủy - Bí thư Đảng đoàn làm trưởng ban; các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Văn Tiến, thành viên; bộ phận biên tập gồm hầu hết các anh phụ trách cấp vụ có khả năng soạn thảo văn bản.
Tôi nhớ mãi buổi họp đầu tiên của Ban chỉ đạo, với nụ cười rất hồn nhiên và giọng nói hết sức chân tình và rất mực khiêm tốn, Anh nói đại ý:
“Tôi đề nghị Đảng đoàn cứ chủ động bàn bạc với Ban Dân vận rồi chỉ đạo anh em tiến hành soạn thảo. Khi nào hòm hòm, chúng ta sẽ họp lại để cùng nhau xem xét. Trong quá trình soạn thảo, có gì cần trao đổi, các anh cứ điện thoại hoặc giao cho anh em chấp bút trực tiếp đến gặp tôi để thảo luận.”
Việc viết dự thảo Chỉ thị lúc đầu giao cho một tập thể gồm các anh Nguyễn Cảnh, Hoàng Thái, Hoàng Phong, Anh Thục, anh Lạc và tôi. Đến dự thảo lần 6 vào cuối tháng 5 năm 1982 do phần lớn các anh được phân công đi nghiên cứu kinh nghiệm công tác Mặt trận hoặc đi nghỉ ở nước ngoài, để đảm bảo tiến độ đã vạch ra, để dễ làm việc, theo đề nghị của đồng chí Xuân Thủy, được đồng chí Lê Quang Đạo đồng ý, tập thể Đảng đoàn có sự phân công lại: đồng chí Xuân Thủy chỉ đạo và tôi chấp bút. Đây chính là dịp để tôi có điều kiện được tiếp xúc và làm việc với anh nhiều hơn, phải đọc nhiều hơn, đi thực tế nhiều hơn, vì như anh thường căn dặn “sách vở cho ta kiến thức, cuộc sống cho ta kinh nghiệm”. Và qua đó với sự hiểu biết uyên thâm của mình. Anh đã cùng đồng chí Hoàng Quốc Việt, đồng chí Xuân Thủy, đồng chí Huỳnh Tấn Phát bồi dưỡng, đào tạo, giáo dục tôi thành người cán bộ có ích cho công tác Mặt trận.
Có lẽ đây cũng là một lý do để khi về đảm nhiệm chức Chủ tịch Mặt trận, anh chuyển tôi từ phụ trách mảng phong trào sang phụ trách tuyên huấn và giúp anh lo tờ báo Đại đoàn kết.
Tôi còn nhớ có một lần vào khoảng tháng 8 năm 1982, anh Xuân Thủy gọi tôi đến nhà và bảo: “Tuần sau tập thể Đảng đoàn sẽ ra Bãi Cháy (Quảng Ninh) để vừa làm việc, vừa kết hợp nghỉ vì thời tiết độ này quá oi bức. Anh Đạo điện cho tôi bảo 3 giờ chiều nay cậu lên nhà, để anh cho thêm một số ý kiến vào dự thảo 9, mà sáng nay chúng tôi vừa trao đổi. Anh Đạo bận không xuống Bãi Cháy cùng chúng ta được”.
Đúng hẹn, tôi đến nhà. Anh Đạo có thói quen không vào đề ngay, mà thường bắt đầu bằng một câu chuyện vui hoặc một tiếu lâm nhằm tạo không khí chan hòa giữa chủ và khách. Sau đó anh động viên tôi:
- Sáng nay, tôi và anh Xuân Thủy đã xem dự thảo 9, chất lượng tốt, đã thể hiện được hầu hết ý kiến của các đồng chí trong Đảng đoàn và Ban Dân vận. Nhưng nhiệm vụ của Mặt trận đối với việc động viên nhân dân tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội, thực hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước đề ra viết còn yếu, chưa cụ thể.
Về hướng mở rộng Mặt trận: thực tiễn 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội 1 Mặt trận dân tộc thống nhất (2/1977) cho thấy chủ trương: Mặt trận tập hợp mọi người Việt Nam yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội là không phù hợp với hoàn cảnh của một đất nước nhiều dân tộc, đa tôn giáo, vừa mới thống nhất sau nhiều năm bị chia cắt. Nên chăng ta thay bằng câu: Mặt trận đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước, tán thành chủ nghĩa xã hội.
Về giải pháp, tôi và anh Xuân Thủy đã trao đổi và thống nhất là công tác Mặt trận thời gian tới phải hướng mạnh về cơ sở và làm thế nào để tạo được phong trào cách mạng từ cơ sở.
Về lực lượng, ngoài những đối tượng đã nêu dự thảo cần nhấn mạnh đến việc vận động lực lượng về hưu tham gia ở cơ sở. Về sự lãnh đạo của Đảng, ở cấp quận, huyện, phường, xã cần phân công đồng chí Thường vụ cấp ủy phụ trách Dân vận trực tiếp làm Chủ tịch hoặc Bí thư Đảng đoàn”.
Tôi đã tiếp thu và cố gắng thể hiện những ý kiến đó trong dự thảo. Anh khen khi tôi thêm cụm từ “tạo ra cuộc sống mới ở khu dân cư bằng những hình thức và phương pháp linh hoạt, thích hợp với đặc điểm từng nơi”.
Theo sự chỉ đạo chung của Đảng đoàn, trong đó có sự đóng góp quan trọng của đồng chí Lê Quang Đạo và đồng chí Xuân Thủy, dự thảo lần thứ 13 của Chỉ thị được hoàn chỉnh để trình Ban Bí thư. Và ngày 18/4/1983, Chỉ thị 17 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới” được ban hành làm cơ sở cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chuẩn bị Đại hội lần thứ hai. “Đại hội có nhiệm vụ xác định rõ vị trí chức năng, vai trò của Mặt trận trong hệ thống chuyên chính vô sản và trong cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, để góp phần tích cực và thiết thực hơn nữa vào việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược và 4 mục tiêu mà Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra” như Chủ tịch Hoàng Quốc Việt đã phát biểu trong diễn văn khai mạc Đại hội.
Kết thúc nhiệm kỳ Quốc hội khóa VIII mà anh Đạo làm Chủ tịch, khóa mở đầu cho sự đổi mới về tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo tinh thần đổi mới toàn diện đất nước mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra. Đầu năm 1993, anh Đạo chuyển hẳn về Mặt trận hoạt động chuyên trách với cương vị Bí thư Đảng đoàn và Ủy viên Đoàn chủ tịch, và từ tháng 8 năm 1994 là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến ngày anh ra đi (24/7/1999).
Có lẽ đây là thời gian anh dành nhiều thời gian, công sức, tâm huyết và trí tuệ nhất cho công tác Mặt trận và sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.

Chủ tịch Lê Quang Đạo tiếp các Mẹ Việt Nam Anh hùng (năm 1998).
Được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, với thời gian chưa đầy 7 năm còn lại của cuộc đời, là người “đứng mũi, chịu sào”, anh đã dốc sức cùng Ban Dân vận, Đảng đoàn Mặt trận Trung ương và Ban Thư ký trước đây, tức Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận làm được khá nhiều việc quan trọng: giúp Bộ Chính trị xây dựng Nghị quyết 07 ngày 17/11/1993 “về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất”, giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội xây dựng “Luật Quốc tịch” và “Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”, những văn bản mang tính định hướng để tiếp tục nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước, góp phần thực hiện dân chủ và xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đại đoàn kết toàn dân - một nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Khi về chuyên trách Mặt trận, anh Đạo tiếp tục làm Bí thư Đảng đoàn, luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, anh Năm Vận tức Phạm Văn Kiết - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký. Các anh Hoàng Thái, Mai Khang, Hồ Anh Dũng, Nguyễn Tiến Thụ và tôi trong Ban Thư ký. Sau này, khi anh Thụ thôi, anh Võ được bổ sung. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đoàn, theo đề nghị của anh Đạo, Trung ương điều anh Văn Phác - Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ văn hóa Thông tin về làm Phó bí thư Đảng đoàn và tham gia Đoàn chủ tịch.
Mỗi anh em trong Đảng đoàn và Ban Thư ký được phân công một mảng việc. Lúc đó tôi đang phụ trách phong trào và cơ sở.
Trong 7 năm về làm chuyên trách Mặt trận, giữa anh và tập thể anh em chúng tôi có biết bao kỷ niệm. Vui cũng có mà buồn cũng có. Không khí bao trùm là tinh thần đoàn kết, nhất trí, làm việc hăng say; tất cả vì việc chung. Vì vậy, những năm tháng anh chuyên trách công tác Mặt trận với trọng trách cao nhất Mặt trận đã làm được khá nhiều việc, trong đó đặc biệt phải kể đến Nghị quyết 07 NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 17/11/1993 “Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất” và “Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”- những văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước đặt cơ sở cho sự tiếp tục mở rộng và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân và Mặt trận dân tộc thống nhất.
Qua thời gian được cùng làm việc với anh, tôi khâm phục sự hiểu biết uyên thâm trên nhiều lĩnh vực cũng như khả năng tổng hợp, phân tích và đề xuất vấn đề của anh. Điều anh luôn trăn trở là Mặt trận cần phải làm gì và làm thế nào để góp phần cùng Nhà nước có những chính sách đúng, đảm bảo hài hòa mọi quan hệ lợi ích giữa các giai tầng xã hội, giữa lợi ích cá nhân và tập thể, giữa lợi ích toàn cục và cục bộ, trước mắt và lâu dài; giữa nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi hợp pháp của mọi thành viên trong xã hội. Sức mạnh vĩ đại của Đảng là ở chỗ Đảng gắn bó mật thiết với dân.
Nhân ngày sinh của anh, tôi ghi lại những kỷ niệm khó quên đó để tưởng nhớ anh.











