KỶ NIỆM 65 NĂM THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG DÂN TỘC CỦA QUỐC HỘI (20/4/1961 - 20/4/2026): Cầu nối quan trọng giữa Quốc hội với đồng bào các dân tộc

Ngày 20/4/1961, tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội Khóa II đã biểu quyết nguyên tắc thành lập Ủy ban Dân tộc, tiền thân của Hội đồng Dân tộc hiện nay. Nhìn lại chặng đường 65 năm qua, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc LÂM VĂN MẪN nhấn mạnh, Hội đồng Dân tộc đã thực hiện tốt sứ mệnh là cầu nối quan trọng giữa Quốc hội với đồng bào các dân tộc; bảo đảm quyền, công bằng lợi ích của mọi công dân và bao trùm trong phát triển tổng thể quốc gia.

Mọi quyết sách đều phải tính đến yếu tố dân tộc

- Thưa ông, việc thành lập Ủy ban Dân tộc của Quốc hội ngày 20/4/1961, tiền thân của Hội đồng Dân tộc hiện nay có ý nghĩa như thế nào?

- Ngay từ rất sớm, Quốc hội đã xác định cần có một thiết chế chuyên trách để bảo đảm vấn đề dân tộc, công tác dân tộc được tổ chức và hoạt động một cách hệ thống, lâu dài, thay vì xử lý như những vấn đề đơn lẻ, cấp bách. Đây chính là nền tảng để hình thành cách tiếp cận xuyên suốt cho đến ngày nay, để tư tưởng của Bác và các quan điểm của Đảng được hiến định, hiện thực hóa thành các chính sách cụ thể, trở thành một phần quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn với Hội đồng Dân tộc Khóa XV. Ảnh Lâm Hiển

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn với Hội đồng Dân tộc Khóa XV. Ảnh Lâm Hiển

Vì vậy, việc thành lập Ủy ban Dân tộc của Quốc hội năm 1961, tiền thân của Hội đồng Dân tộc ngày nay, không chỉ là một dấu mốc về tổ chức, mà quan trọng hơn là đưa vấn đề dân tộc, công tác dân tộc trở thành nội dung quan trọng, được xem xét thường xuyên, có trách nhiệm trong hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Ảnh: Lâm Hiển

Ảnh: Lâm Hiển

“Những chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số đều có dấu ấn, tiếng nói tích cực của Hội đồng Dân tộc và các đại biểu Quốc hội là thành viên Hội đồng. Mỗi khi họp Hội đồng Dân tộc, số lượng thành viên tham gia rất đông đủ, không khí thảo luận sôi nổi, trách nhiệm. Sự tham gia của các thành viên Hội đồng Dân tộc, trong đó nhiều đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng thẩm tra và tham gia xây dựng chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc, vùng dân tộc thiểu số và miền núi”.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn

- Đâu là những đóng góp nổi bật của Hội đồng Dân tộc trong 65 năm qua, thưa ông?

- Nhìn lại lịch sử 65 năm qua của Hội đồng Dân tộc, ý nghĩa lớn nhất đạt được là đã đưa mọi quyết sách của đất nước đều phải xem xét, tính đến yếu tố dân tộc, vùng, miền; bảo đảm quyền, công bằng lợi ích của mọi công dân và bao trùm trong phát triển tổng thể quốc gia.

Qua các nhiệm kỳ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc đã không ngừng đổi mới, phát triển và khẳng định vai trò là một cơ quan đặc thù của Quốc hội, nơi tiếng nói của đồng bào các dân tộc được phản ánh trong các quyết sách lớn của đất nước.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn. Ảnh: Phạm Thắng

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn. Ảnh: Phạm Thắng

Thông qua hoạt động lập hiến, lập pháp và giám sát, Hội đồng Dân tộc đã góp phần quan trọng đưa quan điểm nhất quán của Đảng về bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc vào Hiến pháp, pháp luật và chính sách của Nhà nước.

Hội đồng Dân tộc còn là cầu nối quan trọng giữa Quốc hội với đồng bào các dân tộc thiểu số, giúp Quốc hội hiểu rõ hơn thực tiễn đời sống ở vùng dân tộc và miền núi để từ đó có những quyết sách sát thực tiễn và phù hợp hơn.

Có thể thấy Hội đồng Dân tộc đã khẳng định vai trò là một trong những cơ quan quan trọng của Quốc hội trong việc bảo đảm lợi ích của đồng bào các dân tộc trong tổng thể lợi ích chung của đất nước và giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Kế thừa truyền thống, đổi mới hoạt động

- Trong những thành tựu Hội đồng Dân tộc đã đạt được, điều gì ông ấn tượng sâu sắc nhất?

- Nhìn lại chặng đường phát triển của đất nước trong hơn 8 thập kỷ qua, tôi cho rằng một trong những thành tựu có ý nghĩa sâu sắc nhất chính là việc giữ vững và không ngừng củng cố khối đại đoàn kết giữa các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam. Trong thành tựu chung đó, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội đã có vai trò rất quan trọng trong việc tham mưu xây dựng chính sách dân tộc, thẩm tra các dự án luật liên quan đến vùng dân tộc và miền núi; đồng thời giám sát việc thực hiện các chính sách của Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Một điểm đáng chú ý là phương thức làm việc gắn với thực tiễn. Các hoạt động khảo sát, giám sát không chỉ dừng ở xem xét các báo cáo, mà đi sâu vào từng địa bàn cụ thể, từng nhóm đối tượng cụ thể. Từ đó, nhiều kiến nghị có tính thực tiễn cao, phản ánh được tâm tư, nguyện vọng của cử tri ở địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được các cơ quan liên quan tiếp thu và triển khai các chương trình chính sách phù hợp, hiệu quả hơn.

Có thể nói, qua các hoạt động của mình, Hội đồng Dân tộc đã góp phần quan trọng đưa chủ trương của Đảng về công tác dân tộc vào hệ thống pháp luật và đến với thực tiễn đời sống của người dân; đồng thời phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của đồng bào các dân tộc trong hoạt động của Quốc hội.

- Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Hội đồng Dân tộc sẽ kế thừa và phát huy truyền thống 65 năm qua như thế nào để đáp ứng yêu cầu và kỳ vọng, thưa ông?

- Bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao, Hội đồng Dân tộc xác định rõ trách nhiệm kế thừa truyền thống, đồng thời phải đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về tư duy, phương thức hoạt động và chất lượng tham mưu chính sách, tập trung vào một số định hướng lớn.

Hội đồng Dân tộc Khóa XVI sẽ kế thừa truyền thống, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về tư duy, phương thức hoạt động và chất lượng tham mưu chính sách. Ảnh: Quang Khánh

Hội đồng Dân tộc Khóa XVI sẽ kế thừa truyền thống, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về tư duy, phương thức hoạt động và chất lượng tham mưu chính sách. Ảnh: Quang Khánh

Một là, quyết liệt đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị để hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; bảo đảm thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc, chính sách dân tộc; giữ gìn, củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của Hội đồng Dân tộc, gắn với chuyển đổi số của Quốc hội, nhằm nâng cao năng lực phân tích, theo dõi và giám sát chính sách, tăng tính minh bạch và hiệu quả.

Cuối cùng, các đại biểu Quốc hội nói chung, trong đó có đại biểu là người dân tộc thiểu số không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ, đi sâu, sát nắm tình hình cơ sở để phản ánh tiếng nói, nguyện vọng của đồng bào, góp phần sớm đưa các quyết sách của Đảng và Nhà nước đi vào thực tiễn vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Chặng đường 65 năm là niềm tự hào, là điểm tựa tinh thần, nhưng cũng là lời nhắc nhở về trách nhiệm đối với tương lai. Trong tiến trình phát triển của đất nước, Hội đồng Dân tộc có một sứ mệnh đặc biệt là góp phần bảo đảm mọi chính sách đều hướng tới con người, mọi quyết định đều củng cố niềm tin, và mọi bước phát triển đều làm sâu sắc hơn sự gắn kết của cộng đồng 54 dân tộc.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nhật Linh thực hiện

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/ky-niem-65-nam-thanh-lap-hoi-dong-dan-toc-cua-quoc-hoi-20-4-1961-20-4-2026-cau-noi-quan-trong-giua-quoc-hoi-voi-dong-bao-cac-dan-toc-10418351.html