Kỳ tích ngoại khoa Việt Nam: Lần đầu ghép thành công dương vật cho bệnh nhân
Một người đàn ông 43 tuổi từng phải cắt đoạn dương vật do bệnh lý, đã được các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức ghép thành công cơ quan này từ nguồn hiến của người chết não. Đây là ca ghép dương vật đầu tiên được thực hiện thành công tại Việt Nam.
Sau phẫu thuật, mảnh ghép được nuôi sống tốt, người bệnh hồi phục ổn định, đánh dấu bước tiến mới của ngoại khoa Việt Nam trong lĩnh vực ghép mô phức hợp.
Người bệnh là nam giới, 43 tuổi, từng được phẫu thuật cắt đoạn dương vật tại Trung tâm Nam học, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Sau bốn năm điều trị, sức khỏe hoàn toàn ổn định nhưng phần dương vật còn lại quá ngắn khiến người bệnh gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng lớn đến tâm lý và chất lượng cuộc sống. Dù chức năng tiểu tiện vẫn được bảo tồn, người bệnh tha thiết mong muốn được ghép dương vật để phục hồi hình thái cũng như chức năng.

Các bác sĩ phẫu thuật ghép dương vật cho bệnh nhân.
Trước khi chỉ định ghép, các chuyên gia của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã tiến hành đánh giá toàn diện tình trạng sức khỏe người bệnh với các xét nghiệm huyết học, sinh hóa, chức năng tim, phổi cùng nhiều thăm dò hình ảnh. Kết quả cho thấy người bệnh đủ điều kiện thực hiện phẫu thuật, không có chống chỉ định về chuyên môn và hệ thống mạch máu vùng ghép đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Người bệnh cũng được hội chẩn đa chuyên khoa, đánh giá đầy đủ về miễn dịch, tâm lý và các yếu tố đạo đức trước khi quyết định thực hiện ca ghép với mục tiêu phục hồi hình thái, chức năng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
PGS.TS Nguyễn Quang, Giám đốc Trung tâm Nam học, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết, đây là ca phẫu thuật đặc biệt phức tạp bởi ê-kíp phải tái lập đồng thời các cấu trúc giải phẫu của dương vật gồm niệu đạo, thể xốp và thể hang, đồng thời dưới kính hiển vi tiến hành khâu nối các động mạch, tĩnh mạch và dây thần kinh có kích thước rất nhỏ.

Ca ghép dương vật đầu tiên tại Việt Nam.
Theo PGS Quang, các kỹ thuật tái tạo và vi phẫu được phối hợp chặt chẽ trong suốt ca mổ, đòi hỏi độ chính xác rất cao nhằm bảo đảm mảnh ghép được nuôi sống, đồng thời tạo nền tảng để phục hồi chức năng trong thời gian tới.
Không chỉ là một ca vi phẫu phức tạp, ca ghép còn tuân thủ đầy đủ quy trình của ghép mô - tạng hiện đại. Từ đánh giá mức độ hòa hợp miễn dịch giữa người hiến và người nhận, bảo quản mảnh ghép, điều trị chống thải ghép đến theo dõi tưới máu sau mổ bằng thăm khám lâm sàng và siêu âm Doppler đều được thực hiện nghiêm ngặt. Chỉ khi cả phần tái tạo và vi phẫu đều đạt yêu cầu mới có thể bảo đảm khả năng sống của mảnh ghép cũng như triển vọng phục hồi chức năng.
PGS.TS Nguyễn Hồng Hà, Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt, Tạo hình và Thẩm mỹ cho biết, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã có gần 20 năm kinh nghiệm nối dương vật đứt rời do tai nạn, giúp nhiều người bệnh phục hồi gần như hoàn toàn chức năng. Bên cạnh đó, bệnh viện cũng thường quy thực hiện các kỹ thuật tạo hình dương vật cho người bệnh bị bỏng, dị tật bẩm sinh, không có dương vật hoặc cần tạo hình trong quá trình xác định giới tính. Những kinh nghiệm tích lũy trong lĩnh vực vi phẫu và tạo hình đã tạo nền tảng để triển khai thành công kỹ thuật ghép dương vật.

Kĩ thuật vi phẫu được ứng dụng trong ca ghép.
Theo PGS.TS Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, trên y văn thế giới đến nay mới có 5 ca ghép dương vật được công bố, trong đó ca gần đây nhất được công bố vào năm 2018. Vì vậy, ca ghép đầu tiên tại Việt Nam đã được chuẩn bị trong thời gian dài với sự tham gia của nhiều chuyên khoa như ghép tạng, nam học, vi phẫu, gây mê hồi sức, miễn dịch, giải phẫu bệnh, xét nghiệm và điều dưỡng.
Ông cho biết, dương vật là cơ quan có cấu trúc giải phẫu và chức năng đặc biệt phức tạp. Mục tiêu của ca ghép không chỉ là giúp mảnh ghép tồn tại mà còn hướng tới phục hồi chức năng tiểu tiện, cảm giác và khả năng cương trong tương lai.
Đến nay, diễn biến sau ghép của người bệnh rất khả quan. Mảnh ghép được tưới máu tốt, màu sắc và nhiệt độ bình thường, chưa ghi nhận tình trạng hoại tử hay tắc mạch. Kết quả theo dõi lâm sàng và siêu âm Doppler đều cho thấy hệ thống mạch máu hoạt động ổn định.

Ca ghép phối hợp nhiều chuyên khoa.
Người bệnh tỉnh táo, toàn trạng ổn định, các chỉ số sinh tồn trong giới hạn bình thường. Vết mổ tiến triển tốt, chưa xuất hiện biến chứng sớm đáng kể. Chức năng tiểu tiện đang được theo dõi sát và người bệnh đáp ứng tốt với phác đồ chống thải ghép cũng như chăm sóc sau phẫu thuật.
Tuy nhiên, các bác sĩ cho biết ghép dương vật là dạng ghép mô phức hợp nên cần thêm thời gian để đánh giá sự phục hồi cảm giác, chức năng cương, sự liền của niệu đạo cũng như nguy cơ thải ghép trong trung và dài hạn. Vì vậy, ê-kíp sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ trước khi có thể đánh giá toàn diện hiệu quả lâu dài của ca ghép.
Thành công bước đầu của ca ghép không chỉ mang lại hy vọng phục hồi cho người bệnh mà còn đánh dấu bước phát triển mới của ngoại khoa Việt Nam trong lĩnh vực ghép mô phức hợp, mở ra cơ hội điều trị cho những bệnh nhân mất dương vật do ung thư, chấn thương hoặc tai nạn mà trước đây chưa có giải pháp tối ưu.











