Ký ức 'Ba sẵn sàng' trên những cung đường bất tử

Hơn sáu thập kỷ đã trôi qua kể từ ngày Đội N43 thành lập, những cung đường lửa ngày ấy giờ đã xanh mướt bóng cây. Những bước chân giờ đây đã chậm rãi, có người phải có đồng đội dìu đi, nhưng tinh thần 'Ba sẵn sàng' năm xưa vẫn rực cháy.

Ánh mắt ai nấy đều hân hoan khi được trở lại mảnh đất lửa năm nào. Đó là nơi họ đã dành trọn tuổi thanh xuân để kiên cường chiến đấu, cống hiến...

Các cựu thanh niên xung phong bên tấm bia Địa danh lịch sử thanh niên xung phong Hà Nội - Đội thanh niên xung phong N43. Ảnh: Bảo Lâm

Các cựu thanh niên xung phong bên tấm bia Địa danh lịch sử thanh niên xung phong Hà Nội - Đội thanh niên xung phong N43. Ảnh: Bảo Lâm

Những thanh niên “đôi mươi” giữa tuyến lửa đại ngàn

Trong hành trình về nguồn, thăm lại chiến trường xưa nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những cựu thanh niên xung phong Đội N43, đơn vị thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đầu tiên của Thủ đô Hà Nội đã có một chuyến đi xúc động tới Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị.

Bên tấm bia “Địa danh lịch sử thanh niên xung phong Hà Nội - Đội N43” đặt tại Khu tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ xã Kỳ Lâm (tỉnh Hà Tĩnh), những mái đầu bạc lặng lẽ đứng bên nhau, ôn lại những kỷ niệm của thuở mười tám, đôi mươi. Giữa không gian tĩnh mịch của rừng núi rừng, câu chuyện về một thời hoa lửa cứ thế ùa về như mới hôm qua...

Mùa hè năm 1965, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, Hà Nội sục sôi trong khí thế của phong trào “Ba sẵn sàng”. Chỉ đúng 20 ngày sau khi Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ ban hành về tổ chức các “Đội Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước”, ngày 11-7-1965, Thành đoàn Hà Nội đã thành lập Đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước đầu tiên của Thủ đô, mang phiên hiệu N43. Đội gồm 7 đại đội với 1.500 cán bộ, đội viên, được tuyển chọn kỹ lưỡng từ hơn 4.000 lá đơn tình nguyện.

Nhìn lại danh sách đội viên ngày ấy, phần lớn đều còn rất trẻ, có những người mới chỉ 15, 16 tuổi. Hơn 50% trong số họ là nữ giới và 30% vừa mới rời ghế nhà trường phổ thông. Để được ra trận, nhiều người lặng lẽ cất tờ giấy báo nhập học đại học vào đáy ba lô, có người phải khai tăng tuổi, thậm chí mặc thêm nhiều lớp quần áo hoặc bỏ thêm đá vào túi cho đủ cân nặng tiêu chuẩn khi khám sức khỏe. Nhiều lá đơn tình nguyện viết bằng máu…

Một trong những thanh niên đầu tiên Hà Nội háo hức lên đường, ông Tạ Văn Tiến (sinh năm 1947), nhớ lại: “Tôi đi từ khu Hai Bà Trưng với tâm thế nhẹ nhàng lắm. Cứ nghe tiếng gọi chống Mỹ là lên đường, coi việc xông pha là niềm hạnh phúc. Kỷ niệm nhớ nhất là lần vượt phà Ghép ở Thanh Hóa trong đêm mưa lầy lội. Mỗi người vác trên vai hơn mười cân gạo, gặp mưa, gạo trương lên nặng trĩu. Lũ học sinh thành phố chúng tôi đi đất thì chân đau không bước nổi, nhưng rồi gian khổ cũng buộc mình phải thích nghi hết”.

Cũng với tinh thần ấy, 17 tuổi, bà Trần Thị Đương (khu Từ Liêm) đã giấu gia đình để lên đường. Khi đơn vị cho về phép chia tay, bà nhất quyết không về vì sợ cha sẽ giữ lại không cho đi nữa. Cuộc sống chiến trường là chuỗi ngày đối mặt với thiếu thốn. Bà Đương bồi hồi kể về những ngày bạt núi, mở đường: “Chúng tôi trèo lên những quả núi, có những tảng đá to như nửa cái ô tô con. Lúc đó mình bé tẻo tèo teo, nặng có 40 cân, thế mà cũng bẩy được đá xuống vực để làm kè cho xe vượt qua”.

Với khẩu hiệu “Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, giữa đại ngàn Trường Sơn, bom đạn cày sới, gian khổ, mất mát hy sinh, thiếu thốn đủ thứ nhưng thanh niên xung phong Hà Nội vẫn luôn lạc quan, không hề nao núng. Ngược lại, chính hoàn cảnh ấy đã trui rèn những cô cậu học sinh Hà thành vốn quen với sách đèn trở nên kiên cường, dũng cảm.

Sự khốc liệt không chỉ đến từ bom đạn mà còn từ lao động cực nhọc, thiếu thốn đủ bề, nhưng tinh thần của họ chưa bao giờ khuất phục trước bất kỳ thử thách nào. Với bà Đương, dù ăn uống chỉ có “gạo mục với muối vừng, muối lạc”, phải hái rau tàu bay, rau rừng nấu canh, nhưng tiếng hát chưa bao giờ dứt. Tối đến, rừng già lại rộn ràng văn nghệ.

Trong những câu chuyện của mỗi người, điều đọng lại sâu sắc nhất không phải là sự khốc liệt của bom đạn, mà là tinh thần lạc quan đến lạ kỳ. Chính sự hồn nhiên, trong sáng ấy đã kết nối những thanh niên xa lạ thành anh em một nhà, giúp họ vượt qua gian khó, bám trụ trên các tuyến đường chiến lược, bảo đảm mạch máu giao thông luôn thông suốt. Họ đùm bọc nhau qua hơn 60 năm, từ lán trại giữa rừng sâu đến khi trở về đời thường, tình cảm ấy vẫn đậm đà, không thay đổi.

Nặng tình đồng đội, vẹn nghĩa với non sông

Suốt những năm tháng từ 1965 đến 1969, Đội N43 đã lập nên những chiến công hiển hách: Xây dựng 4 tuyến đường chiến lược dài 55km; bảo đảm thông suốt cho đường 22 và đường 10; chốt giữ 15 trọng điểm giao thông quan trọng, rà phá hàng nghìn quả bom các loại. Đơn vị còn bổ sung 250 đội viên ưu tú cho quân đội chính quy. Nhưng cái giá của hòa bình là vô cùng lớn lao khi 48 cán bộ, chiến sĩ của đội đã mãi mãi nằm lại nơi đại ngàn.

Trong chuyến trở lại lần này, các cựu thanh niên xung phong đã tới thăm những nghĩa trang liệt sĩ, nơi đồng đội họ đang nằm lại. Trong làn khói hương lãng đãng bên những dãy mộ trắng, hình ảnh những mái đầu bạc ngậm ngùi thắp hương khiến ai cũng nghẹn ngào. Những người con Hà Nội ấy, dù ở tuổi 17 hay khi đã 80 vẫn mãi sát cánh bên nhau, chia ngọt sẻ bùi như những năm tháng sống giữa rừng già Trường Sơn.

Đứng lặng hồi lâu trước những ngôi mộ liệt sĩ thanh niên xung phong tại Nghĩa trang liệt sĩ Vạn Ninh (Quảng Bình cũ), nhớ về người bạn thân là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hoàng Lộc, ông Tạ Văn Tiến không khỏi ngậm ngùi. Liệt sĩ Hoàng Lộc là đội trưởng đội phá bom nổ chậm mẫu mực. Khi anh hy sinh vào tháng 10-1968, trong ba lô vẫn còn nguyên tờ giấy báo nhập học đại học chưa kịp thực hiện. Hình ảnh người chiến sĩ trẻ trước lúc hy sinh xin được hôn cờ Đảng và dặn dò đồng đội tiếp tục chiến đấu vì miền Nam ruột thịt đã trở thành biểu tượng bất tử của Đội thanh niên xung phong N43.

Một trường hợp khác khiến các đội viên không khỏi ngậm ngùi là Liệt sĩ Nguyễn Như Nghĩa, sinh năm 1943, nhà ở khu Hai Bà Trưng, quê Thanh Oai, hy sinh năm 1968 và nằm lại Nghĩa trang liệt sĩ Quảng Xuân (tỉnh Quảng Trị). Anh vốn là một giáo viên dạy Toán trong chiến trường để nâng cao trình độ văn hóa cho các đội viên khác. Những cựu binh già xúm xít bên ngôi mộ, nhắc lại những bài toán anh dạy dưới hầm, kể những câu chuyện về một người thầy giáo cầm súng đầy xúc động.

Cũng là một chiến sĩ cảm tử phá bom nơi chiến trường những năm tháng ấy, Trưởng ban Liên lạc Đội N43 Nguyễn Cao Vãng bùi ngùi tâm sự rằng, từ 1.500 người ban đầu, nay Đội thanh niên xung phong N43 chỉ còn chưa đầy 700 người còn sống, và hầu hết đều đã bước vào tuổi già sức yếu, có nhiều người vẫn mang trên mình những thương tật của chiến tranh. Nhiều người trong đoàn xác định đây có thể là lần cuối cùng họ được trở lại nơi này, vì tất cả đều đã trên dưới tám mươi tuổi.

“Mỗi nén hương thắp lên là một lời hứa. Chúng tôi nguyện sẽ đoàn kết, trách nhiệm, làm hết sức mình của người cựu thanh niên xung phong, tiếp tục là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Thủ đô noi theo”, ông Nguyễn Cao Vãng thay mặt các cựu binh bày tỏ tâm nguyện.

Nỗi trăn trở lớn nhất của những người cựu thanh niên xung phong lúc này là mong muốn được sớm xét duyệt và trao tặng Huy chương thanh niên xung phong vẻ vang cho các đội viên. Đó không chỉ là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước, mà là phần thưởng tinh thần quý báu cho những đóng góp xương máu mà họ đã dâng hiến cho Tổ quốc.

Rời chiến trường xưa với một nỗi lòng, nhưng có lẽ, với họ, phần thưởng lớn nhất không nằm ở những danh hiệu, mà chính là sự xanh tươi của những cung đường tuyến lửa năm nào. Họ đã sống một thời không hối tiếc, để hôm nay, khi nhìn lại, mỗi tấc đất dưới chân đều thấm đẫm một tình yêu Tổ quốc vẹn nguyên, trong sáng và bất tử.

Dương Linh

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/ky-uc-ba-san-sang-tren-nhung-cung-duong-bat-tu-747918.html