Lãi suất vay lên 16%: Doanh nghiệp ôm tiền mặt hưởng lợi, bên vay nợ chịu sức ép
Một số doanh nghiệp gặp áp lực dòng tiền, chi phí vốn tăng khi thị trường biến động. Ngược lại, những doanh nghiệp nắm lượng tiền và tiền gửi lớn có thể có thêm thu nhập tài chính khi mặt bằng lãi suất tăng.
Cổ phiếu phân hóa mạnh
Phiên giao dịch ngày 28/9 cho thấy sự phân hóa rõ nét trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong khi nhiều cổ phiếu giảm hết biên độ, dư bán hàng chục triệu đơn vị, một số mã lại tăng kịch trần với lượng dư mua lớn.
Đáng chú ý nhất là Novaland (NVL) do ông Bùi Cao Nhật Quân làm Chủ tịch. Cổ phiếu này giảm sàn 6,75%, xuống 11.050 đồng/cổ phiếu, đánh dấu phiên giảm thứ 6 liên tiếp và là mức giá thấp nhất trong lịch sử giao dịch. Cuối phiên, NVL còn dư bán sàn hơn 54,3 triệu cổ phiếu, tương đương khoảng 2,3% lượng cổ phiếu lưu hành.
Với mức giảm này, vốn hóa Novaland bốc hơi khoảng 1.900 tỷ đồng chỉ trong một phiên, xuống khoảng 26.500 tỷ đồng.
PNJ cũng rơi vào tình trạng tương tự. Cổ phiếu của CTCP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận - do bà Cao Thị Ngọc Dung làm Chủ tịch - giảm hết biên độ 7%, xuống 30.700 đồng, thấp nhất gần 6 năm. Đáng chú ý, hơn 27 triệu cổ phiếu vẫn nằm chờ bán ở giá sàn, tương đương khoảng 5,3% lượng cổ phiếu đang lưu hành, trong khi khối lượng khớp lệnh chỉ hơn 2 triệu đơn vị.
So với mức khoảng 83.000 đồng/cổ phiếu hồi đầu tháng 3, PNJ đã mất hơn 63% giá trị.
Không chỉ NVL và PNJ, một số mã bất động sản cũng giảm mạnh. KOS giảm sàn với dư bán hơn 20 triệu cổ phiếu. Một số mã như ST8, STH cũng chịu áp lực bán mạnh.
Ở chiều ngược lại, BVH tăng kịch trần với dư mua gần 619.000 cổ phiếu. Nhiều cổ phiếu vốn hóa lớn như BSR, GAS, VHM, VNM, VJC, VCB cũng tăng giá, góp phần hạn chế đà giảm của thị trường.
VN-Index kết phiên giảm 4,43 điểm, xuống 1.780,68 điểm.

Novaland đang chịu áp lực về dòng tiền và nghĩa vụ tài chính. Ảnh: NVL
'Ông lớn' nhiều tiền có lợi thế, doanh nghiệp thiếu vốn chịu áp lực
Trong môi trường lãi suất tăng, tiền mặt trở thành một tài sản có giá trị đặc biệt. Doanh nghiệp có lượng tiền lớn không chỉ có “tấm đệm” để chống chịu khi thị trường khó khăn mà còn có thể thu được khoản thu nhập tài chính đáng kể từ tiền gửi.
Ngược lại, doanh nghiệp thiếu tiền nhưng có nhu cầu vốn lớn sẽ phải đối mặt với bài toán ngày càng đắt đỏ.
Cuối tháng 9, cuộc đua huy động vốn đã đẩy lãi suất tiền gửi cao nhất tại một số ngân hàng lên tới 9-10%/năm. Trong khi đó, lãi suất thực tế của một số khoản vay có thể lên 16-18%/năm.
Điều này tạo thêm áp lực đối với những doanh nghiệp phải vay mới, tái cấp vốn hoặc huy động vốn để thực hiện các nghĩa vụ tài chính.
Novaland là một trường hợp đáng chú ý. Theo báo cáo tài chính bán niên 2026, tổng nợ gốc vay và nợ gốc trái phiếu của doanh nghiệp đến cuối tháng 6 khoảng 72.900 tỷ đồng; trong đó nợ vay ngân hàng hơn 31.300 tỷ đồng.
Dư nợ ngân hàng hơn 31.300 tỷ đồng, tăng hơn 4.100 tỷ đồng so với đầu năm. Nợ trái phiếu ngắn hạn gần 13.200 tỷ đồng và nợ trái phiếu dài hạn hơn 10.500 tỷ đồng.
Trong bối cảnh áp lực về dòng tiền và nghĩa vụ tài chính, Novaland tiếp tục tái cơ cấu nợ, xử lý tài sản và huy động thêm vốn. Doanh nghiệp dự kiến chào bán gần 800,7 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó huy động khoảng 8.007 tỷ đồng trong tháng 10.
Trong số này, hơn 5.953 tỷ đồng dự kiến dùng để thanh toán một phần hoặc toàn bộ dư nợ gốc của 13 lô trái phiếu, phần còn lại dành cho các nghĩa vụ tài chính tại một số công ty con.
Theo phương án sử dụng vốn, phần lớn số tiền Novaland dự kiến huy động sẽ được dùng để xử lý nợ và các nghĩa vụ tài chính.
Trong môi trường lãi suất cao, chi phí huy động vốn có thể chịu thêm áp lực. Việc sử dụng thêm vốn vay với chi phí cao có thể làm tăng chi phí tài chính và áp lực dòng tiền. Nếu phát hành cổ phiếu, cổ đông hiện hữu muốn duy trì tỷ lệ sở hữu sẽ cần bỏ thêm vốn tham gia đợt phát hành, trong khi giá đóng cửa NVL ngày 28/9 là 11.050 đồng/cổ phiếu, cao hơn 10,5% so với giá chào bán dự kiến 10.000 đồng.
Trường hợp PNJ có đặc điểm khác, nhưng cũng đang đặt ra nhu cầu bổ sung nguồn lực tài chính cho hoạt động kinh doanh. PNJ dự kiến lỗ sau thuế 6.271 tỷ đồng trong năm 2026, đảo chiều hoàn toàn so với kế hoạch lãi 3.400 tỷ đồng, chủ yếu do dự kiến trích lập 7.071 tỷ đồng dự phòng liên quan chính sách thu đổi sản phẩm.
PNJ cũng dự kiến huy động nguồn vốn với tổng quy mô tối đa khoảng 8.000 tỷ đồng thông qua nhiều hình thức để bổ sung nguồn lực cho quá trình tái thiết.
Ở chiều ngược lại, những doanh nghiệp có nguồn tiền và tiền gửi lớn có thể ghi nhận thêm thu nhập tài chính khi lãi suất ở mức cao.
Bảo Việt là một ví dụ. Đến cuối tháng 6/2026, lượng tiền và tiền gửi của Bảo Việt lên tới hơn 170.000 tỷ đồng. Một số khoản tiền gửi VND kỳ hạn khoảng 12 tháng có lãi suất 8,6-8,9%/năm. Với quy mô tiền gửi lớn, mỗi 1 điểm phần trăm thay đổi của lãi suất có thể tạo ra chênh lệch thu nhập tài chính lớn.
Vingroup cũng có gần 85.000 tỷ đồng tiền và tiền gửi, trong khi Vinhomes có hơn 55.400 tỷ đồng. PV GAS có khoảng 45.450 tỷ đồng tiền và tiền gửi ngân hàng vào cuối quý II.
Tuy nhiên, lượng tiền lớn không đồng nghĩa doanh nghiệp luôn có lợi thế về tài chính. Một số tập đoàn lớn ghi nhận lượng tiền mặt tăng cao, nhưng dư nợ vay cũng tăng đáng kể. Điều quan trọng là tương quan giữa tiền, dòng tiền kinh doanh, nợ vay, kỳ hạn trả nợ và khả năng tạo lợi nhuận.
Trong môi trường lãi suất cao, doanh nghiệp có nguồn tiền và tiền gửi lớn có thể ghi nhận thêm thu nhập từ hoạt động tiền gửi, tùy thuộc quy mô, kỳ hạn và mức lãi suất áp dụng.
Sự phân hóa của thị trường vì thế không chỉ thể hiện qua kỳ vọng tăng trưởng mà còn liên quan đến thanh khoản và cấu trúc tài chính của từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp có nguồn tiền lớn có thêm dư địa tài chính, trong khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn cao phải chú trọng hơn đến khả năng huy động và chi phí vốn.
Khi mặt bằng lãi suất duy trì ở mức cao, chênh lệch về chi phí vốn và thu nhập từ tiền gửi có thể tiếp tục tạo ra sự khác biệt giữa các doanh nghiệp có cấu trúc tài chính khác nhau.



