Làm chủ công nghệ để trở thành quốc gia biển mạnh
Muốn trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam phải chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành năng lực phát triển, trong đó năng lực hiểu, dự báo, quản trị và làm chủ công nghệ biển có ý nghĩa quyết định.

Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)
Với vùng biển rộng, đường bờ biển dài hơn 3.260 km và vị trí nằm trên những tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, Việt Nam hội tụ nhiều điều kiện để phát triển một nền kinh tế biển quy mô lớn. Tuy nhiên, lợi thế về không gian và tài nguyên chỉ là tiền đề.
Muốn trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam phải chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành năng lực phát triển, trong đó năng lực hiểu, dự báo, quản trị và làm chủ công nghệ biển có ý nghĩa quyết định.
Nghị quyết số 20-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra yêu cầu mới đối với cách tiếp cận biển.
Từ chỗ chủ yếu khai thác những nguồn lực sẵn có, Việt Nam phải hướng tới làm chủ tri thức, dữ liệu và công nghệ, phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh, đồng thời mở ra những không gian kinh tế biển mới.
Lợi thế biển phải song hành cùng năng lực công nghệ
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Thủy sản Việt Nam, nước ta hội tụ đủ điều kiện thuận lợi để vươn lên trở thành một quốc gia biển mạnh nhưng chính quy mô của không gian biển cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về công nghệ.
Vùng biển rộng cần có hệ thống điều tra, quan trắc và dự báo hiện đại, hiệu quả. Biển sâu, xa bờ với các hoạt động về khai thác tài nguyên, vận tải, cảng, năng lượng ngoài khơi… đòi hỏi những phương tiện, thiết bị, công nghệ chuyên dụng mà năng lực trong nước phải từng bước hình thành.
Vì thế, phát triển kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW phải đồng thời tạo ra năng lực công nghệ từ chính quá trình phát triển biển.
Phát triển kinh tế biển xa bờ cần công nghệ khảo sát, thiết bị và phương tiện chuyên dụng. Nuôi biển công nghiệp cần công nghệ giống, lồng nuôi, thiết bị, bảo quản, chế biến và kiểm soát môi trường. Công nghiệp hàng hải cũng cần năng lực đóng tàu, sửa chữa tàu, cơ khí và logistics.
Năng lượng ngoài khơi cần công nghệ khảo sát, thiết kế, xây dựng, vận hành và bảo dưỡng. Các ngành mới như công nghệ sinh học biển, dược liệu biển hay khử mặn nước biển cần một nền tảng nghiên cứu chuyên sâu.
Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW đã cụ thể hóa hướng đi này khi đặt phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao thành một trong 9 nhóm nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời yêu cầu phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành kinh tế biển mới.
Trong đó, nhiều nhiệm vụ có hàm lượng công nghệ rất cao như: Phát triển cảng biển xanh, thông minh, công nghiệp đóng tàu, sửa chữa tàu biển và logistics; cơ cấu lại ngành thủy sản, đẩy mạnh nuôi biển công nghiệp, công nghệ cao; phát triển giống, bảo quản, chế biến; nghiên cứu dược liệu biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn nước biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh và hạ tầng cáp ngầm biển.
Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, Việt Nam phải từng bước làm chủ biển bằng tri thức, dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng của quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia, phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, số và bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Bộ trưởng Vũ Hải Quân đề nghị trong giai đoạn 2026-2030 tập trung hình thành năng lực nghiên cứu biển mạnh; coi dữ liệu biển là hạ tầng chiến lược quốc gia; chuyển từ ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ; lấy doanh nghiệp và địa phương làm những chủ thể quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo biển và đổi mới cách tổ chức, triển khai nhiệm vụ khoa học, công nghệ biển.
Cho rằng, một trong những điểm quan trọng nhất để thực hiện mục tiêu làm chủ công nghệ biển là phải giải quyết được bài toán dữ liệu, Bộ trưởng Vũ Hải Quân đề nghị xác định, dữ liệu biển cần được chuẩn hóa, tích hợp, liên thông, chia sẻ, đồng thời bảo đảm an ninh, an toàn và chủ quyền dữ liệu.
Bộ trưởng cũng nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm bao nhiêu đề tài hay báo cáo, mà là làm chủ được những công nghệ nào, tạo ra sản phẩm gì và hình thành được năng lực quốc gia nào. Các nhiệm vụ khoa học, công nghệ biển cần chuyển mạnh sang những bài toán lớn, liên ngành, liên vùng, có sản phẩm đầu ra rõ ràng.

Ảnh minh họa. (Ảnh: Công Thử/TTXVN)
Tạo nền tảng để làm chủ công nghệ biển
Chia sẻ một góc nhìn khác về hiện thực hoá mục tiêu quốc gia biển mạnh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Giáo sư, Tiến sỹ Trần Tuấn Anh cho rằng một quốc gia biển mạnh là phải hiểu được biển, dự báo được biển, quản trị được biển, khai thác bền vững tài nguyên biển và từng bước làm chủ công nghệ biển hiện đại.
Theo Giáo sư, Tiến sỹ Trần Tuấn Anh, cần thực hiện đồng thời 4 chuyển đổi: Từ nghiên cứu đơn ngành sang liên ngành, đa ngành; từ các đề tài riêng lẻ sang chương trình giải quyết bài toán lớn; từ dữ liệu phân tán sang hạ tầng dữ liệu biển dùng chung; từ ứng dụng công nghệ sang từng bước làm chủ các công nghệ biển chiến lược.
Đây là sự thay đổi quan trọng về cách tổ chức nguồn lực khoa học, công nghệ. Biển vốn không tồn tại theo ranh giới của từng ngành. Một bài toán về nuôi biển có thể đồng thời liên quan đến sinh học, vật liệu, môi trường, cơ khí, tự động hóa, năng lượng và dữ liệu.
Vấn đề liên quan đến cảng biển sẽ gồm nhiều lĩnh vực như: hàng hải, logistics, cơ khí, giao thông và quản trị không gian. Vì vậy, cần xác định những bài toán quốc gia, tổ chức các chương trình nghiên cứu quy mô lớn, tập hợp nhiều lĩnh vực và hướng kết quả cuối cùng vào công nghệ, thiết bị, sản phẩm hoặc năng lực vận hành.
Trong đó, dữ liệu biển cần được tích hợp từ tàu nghiên cứu, vệ tinh, phao quan trắc, radar biển, robot dưới nước, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và dữ liệu kinh tế - xã hội.
Đây sẽ là nền tảng để phát triển AI cho đại dương, mô hình dự báo, bản đồ số, “Digital Ocean” và tiến tới “Digital Twin Ocean.” Với thế mạnh nghiên cứu đa ngành từ khoa học trái đất, khoa học biển, sinh học, vật liệu, AI, điện tử - tự động hóa, công nghệ vũ trụ đến môi trường, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có thể đóng vai trò một trong những hạt nhân kết nối các năng lực nghiên cứu để giải quyết những bài toán lớn của quốc gia về biển.
Từ thực tiễn địa phương, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa Nguyễn Thanh Hà cho biết, Khánh Hòa có nhiều lợi thế để đảm nhiệm vai trò trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ biển của cả nước.
Tỉnh có 490 km bờ biển, hơn 200 hòn đảo, các vịnh nước sâu Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh có vị trí quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh. Đây cũng là địa phương tập trung nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo chuyên sâu về biển như Viện Hải dương học, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, Trường Đại học Nha Trang, cùng đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và kỹ sư có kinh nghiệm.
Ông Nguyễn Thanh Hà cho rằng, để thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 20-NQ/TW, cần thay đổi cách tiếp cận đối với kinh tế biển, từ khai thác các nguồn lợi đơn thuần sang quản trị, sử dụng bền vững không gian biển; đồng thời chuyển từ phát triển kinh tế ven biển theo từng ngành, từng địa bàn sang xây dựng năng lực của một quốc gia biển mạnh. Lợi thế về tài nguyên và nguồn nhân lực cần được tiếp sức bằng năng lực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Đây sẽ là những yếu tố có vai trò quyết định trong nâng cao giá trị khai thác, quản lý hiệu quả tài nguyên và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ biển có sức cạnh tranh cao.
Từ yêu cầu đó, Khánh Hòa đề xuất Trung ương quan tâm đầu tư hệ thống hạ tầng nghiên cứu và phát triển đại dương dùng chung cấp quốc gia tại địa phương, trong đó có tàu nghiên cứu biển sâu, các phòng thí nghiệm trọng điểm và mạng lưới trạm quan trắc thông minh tích hợp các công nghệ hiện đại.
Tỉnh cũng đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét đưa Trung tâm Nghiên cứu quốc gia về công nghệ đại dương tại Khánh Hòa vào quy hoạch hệ thống các trung tâm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ chiến lược.
Việc hình thành các hạ tầng nghiên cứu quy mô quốc gia sẽ tạo nền tảng để tập trung nguồn lực, kết nối các viện, trường, doanh nghiệp và thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ biển.
Để làm chủ công nghệ biển, Việt Nam cần một hệ sinh thái đủ khả năng biến nguồn lực nghiên cứu thành năng lực công nghệ và năng lực sản xuất. Trong hệ sinh thái đó, mối liên kết ba nhà (Nhà nước-Viện/trường-Doanh nghiệp) cần được kết nối chặt chẽ.
Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách và đầu tư hạ tầng; các viện nghiên cứu, trường đại học tạo ra tri thức và công nghệ; doanh nghiệp tiếp nhận, hoàn thiện, sản xuất và thương mại hóa; địa phương cung cấp không gian, nhu cầu và điều kiện thử nghiệm.
Yêu cầu làm chủ công nghệ biển phải gắn với đổi mới phương thức quản trị biển dựa trên những chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước, cụ thể là Nghị quyết số 20-NQ/TW và Chương trình hành động của Chính phủ đối với Nghị quyết.
Mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh là một bài toán tổng hợp năng lực quốc gia về hiểu biển, làm chủ dữ liệu về biển, làm chủ công nghệ biển và quản trị hiệu quả không gian biển.
Tất cả những yếu tố này khi được kết nối sẽ chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh, tạo ra những động lực tăng trưởng mới và nâng cao vị thế của Việt Nam trong không gian biển khu vực và quốc tế./.
