Làm gì để hiện thực hóa Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải?

Để hiện thực hóa Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2035, định hướng đến năm 2050, cần triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp về hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển doanh nghiệp, nguồn nhân lực...

Đồng bộ hạ tầng, thúc đẩy chuyển đổi số và chuyển đổi xanh

Nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách được dự báo tiếp tục tăng trong những năm tới, kéo theo yêu cầu ngày càng cao về năng lực cung ứng, chất lượng dịch vụ và khả năng kết nối của hệ thống vận tải. Trong khi đó, quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hội nhập quốc tế và những tác động từ biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, biến động kinh tế đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ phương thức tổ chức, quản lý và khai thác vận tải.

Bộ Xây dựng hiện thực hóa Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải (Ảnh minh họa).

Bộ Xây dựng hiện thực hóa Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải (Ảnh minh họa).

Từ yêu cầu đó, Đề án "Xây dựng Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2035, định hướng đến năm 2050" do Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ Xây dựng xác định nhiều nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm từng bước hình thành hệ thống vận tải hiện đại, đồng bộ, kết nối, xanh và thông minh.

Trước hết, việc tổ chức thực hiện hiệu quả các quy hoạch đã được phê duyệt, ưu tiên đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông trên các hành lang vận tải chiến lược có vai trò dẫn dắt mạng lưới vận tải quốc gia là nhiệm vụ quan trọng.

Theo định hướng này, phát triển hạ tầng không chỉ tập trung vào đường bộ mà cần tăng cường đầu tư cho đường sắt, đường thủy nội địa và vận tải ven biển, đặc biệt là những tuyến có khả năng vận chuyển khối lượng hàng hóa lớn. Đây là cơ sở để phân bổ hợp lý thị phần giữa các phương thức, nâng cao hiệu quả khai thác và từng bước phát triển vận tải đa phương thức gắn với logistics.

Cùng với các tuyến vận tải, hệ thống đầu mối như cảng biển, cảng hàng không, ga đường sắt, cảng thủy nội địa, cảng cạn cũng cần được đầu tư theo hướng hiện đại, thông minh và xanh. Việc khắc phục các điểm nghẽn kết nối, nâng cao năng lực trung chuyển và tăng cường liên kết giữa các phương thức sẽ góp phần hình thành mạng lưới vận tải có tính liên thông cao hơn.

Đối với các đô thị lớn, phát triển đường sắt đô thị được định hướng làm trục xương sống của hệ thống vận tải hành khách công cộng, gắn với phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Cách tiếp cận này nhằm tăng khả năng kết nối, nâng cao hiệu quả vận tải công cộng và tạo sự đồng bộ giữa phát triển giao thông với phát triển đô thị.

Một yêu cầu quan trọng khác là phát triển hạ tầng giao thông đáp ứng quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Theo đó, từng bước hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với phương tiện và các trung tâm điều hành; ưu tiên hạ tầng phục vụ phương tiện sử dụng điện, nhiên liệu sạch và các nguồn năng lượng xanh.

Nếu hạ tầng vật chất tạo nền tảng cho hoạt động vận tải thì hạ tầng số và dữ liệu sẽ là yếu tố thúc đẩy phương thức quản lý, điều hành mới. Chiến lược định hướng xây dựng, phát triển đồng bộ hạ tầng số, nền tảng số, hệ thống dữ liệu dùng chung và cơ sở dữ liệu chuyên ngành trong lĩnh vực vận tải.

Dữ liệu giữa các phương thức vận tải, kết cấu hạ tầng, phương tiện, doanh nghiệp, trung tâm logistics và cơ quan quản lý nhà nước cần từng bước được kết nối, chia sẻ và liên thông. Qua đó hình thành hệ sinh thái dữ liệu số thống nhất, phục vụ công tác quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ vận tải.

Trên nền tảng dữ liệu, việc đầu tư phát triển giao thông thông minh, trung tâm điều hành vận tải, logistics và chuỗi cung ứng thông minh cũng được đặt ra. Các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây, chuỗi khối (Blockchain), bản sao số (Digital Twin), kết nối 5G/6G được định hướng đẩy mạnh ứng dụng trong quản lý kết cấu hạ tầng, tổ chức vận tải và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Chuyển đổi số cũng cần được triển khai trực tiếp trong các hoạt động cung cấp dịch vụ, từ hợp đồng điện tử, chứng từ điện tử, thanh toán điện tử đến vé điện tử và các dịch vụ số. Qua đó góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí, tối ưu hóa hành trình, hỗ trợ dự báo nhu cầu và tăng tính minh bạch trong hoạt động vận tải.

Đáng chú ý, chiến lược đề cập việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với công nghệ, phương tiện, mô hình kinh doanh và dịch vụ vận tải mới. Đây là giải pháp tạo không gian để nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển phương tiện tự hành, phương tiện không người lái, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo và các mô hình vận tải mới.

Chiến lược xác định phát triển doanh nghiệp dịch vụ vận tải trở thành lực lượng nòng cốt trong tổ chức hệ thống vận tải hiện đại (Ảnh minh họa).

Chiến lược xác định phát triển doanh nghiệp dịch vụ vận tải trở thành lực lượng nòng cốt trong tổ chức hệ thống vận tải hiện đại (Ảnh minh họa).

Huy động nguồn lực, phát triển doanh nghiệp và nhân lực

Để các định hướng về hạ tầng và công nghệ có thể đi vào thực tế, nguồn lực đầu tư và năng lực của doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng. Chiến lược xác định phát triển doanh nghiệp dịch vụ vận tải trở thành lực lượng nòng cốt trong tổ chức hệ thống vận tải hiện đại; khuyến khích doanh nghiệp đổi mới mô hình kinh doanh, đầu tư kết cấu hạ tầng, đổi mới phương tiện, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển dịch vụ logistics tích hợp.

Cùng với việc hình thành những doanh nghiệp có quy mô, năng lực quản trị hiện đại và khả năng tham gia chuỗi giá trị logistics khu vực, toàn cầu, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ, nguồn lực, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và mở rộng hợp tác kinh doanh.

Xã hội hóa nguồn lực cũng là một hướng đi quan trọng. Khu vực tư nhân cần được tạo điều kiện tham gia đầu tư, quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông, các đầu mối vận tải, logistics và cung cấp dịch vụ vận tải. Qua đó phát huy vai trò của doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo, phát triển thị trường và nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống.

Để thực hiện mục tiêu này, cần đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, ưu tiên các hình thức hợp tác công - tư (PPP), xã hội hóa đầu tư, nguồn vốn xanh, nguồn vốn quốc tế và các nguồn vốn hợp pháp khác.

Bên cạnh nguồn vốn, việc khai thác hiệu quả nguồn lực từ đất đai, không gian phát triển đô thị, không gian ngầm, tài sản kết cấu hạ tầng giao thông và các nguồn lực xã hội sẽ tạo thêm dư địa cho đầu tư phát triển. Nguồn lực ngoài ngân sách cần được huy động cho các công trình kết cấu hạ tầng, đầu mối vận tải và logistics có tính kết nối, lan tỏa.

Việc phân bổ nguồn lực cũng cần có trọng tâm, ưu tiên các chương trình, dự án có khả năng thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tái cơ cấu hệ thống vận tải, tránh đầu tư dàn trải, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Một yếu tố không thể thiếu trong quá trình hiện đại hóa ngành vận tải là nguồn nhân lực chất lượng cao. Chiến lược định hướng phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế; chú trọng đào tạo đội ngũ quản lý, chuyên gia và lao động kỹ thuật chất lượng cao.

Nội dung, chương trình và phương thức đào tạo cần gắn chặt hơn với nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức nghề nghiệp.

Các lĩnh vực mới như logistics, vận tải đa phương thức, khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, giao thông thông minh, công nghệ phương tiện và quản trị chuỗi cung ứng cần được chú trọng đào tạo. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ lái xe, thuyền viên, nhân viên hàng không và đường sắt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hệ thống vận tải.

Trong bối cảnh các rủi ro có thể tác động trực tiếp đến hoạt động vận tải, việc xây dựng phương án duy trì vận tải thông suốt cũng cần được tính đến. Hệ thống phải có khả năng bảo đảm năng lực vận chuyển thiết yếu, huy động phương tiện và kết cấu hạ tầng khi xảy ra biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, sự cố kỹ thuật, an ninh mạng, biến động kinh tế, địa chính trị hoặc nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.

Hợp tác quốc tế tiếp tục là một giải pháp để bổ sung nguồn lực và kinh nghiệm cho quá trình phát triển. Việc đẩy mạnh hợp tác trong xây dựng thể chế, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, huy động vốn đầu tư và mở rộng thị trường dịch vụ vận tải sẽ tạo thêm cơ hội cho ngành vận tải tiếp cận những mô hình quản lý và công nghệ mới.

Cùng với đó, cần chủ động tham gia và thực hiện hiệu quả các điều ước quốc tế, hiệp định thương mại tự do, diễn đàn hợp tác và mạng lưới vận tải, logistics khu vực, toàn cầu; tăng cường kết nối với các hành lang vận tải quốc tế, chuỗi logistics và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Một nhiệm vụ xuyên suốt là tăng cường theo dõi, kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện chiến lược. Các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cần được định kỳ sơ kết, tổng kết, rà soát và cập nhật phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế. Đồng thời, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và cơ quan liên quan cần được phân công rõ ràng.

Đặc biệt, nâng cao năng lực thống kê, phân tích và dự báo nhu cầu vận tải là cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách, lập quy hoạch, xây dựng kế hoạch đầu tư và tổ chức vận tải. Hệ thống chỉ tiêu, phương pháp thống kê và chế độ báo cáo cần bảo đảm thống nhất, đầy đủ, kịp thời, phù hợp với hệ thống thống kê quốc gia và thông lệ quốc tế.

Từ dữ liệu tin cậy, từng bước hoàn thiện mô hình dự báo nhu cầu vận tải theo phương thức, hành lang và vùng lãnh thổ sẽ giúp nâng cao chất lượng hoạch định chính sách và điều hành thị trường.

Theo Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ Xây dựng, hiện thực hóa Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2035, định hướng đến năm 2050 không chỉ là câu chuyện đầu tư thêm đường, cảng, phương tiện hay mở rộng năng lực vận chuyển. Đây là quá trình đổi mới đồng bộ từ hạ tầng, công nghệ, doanh nghiệp, nguồn nhân lực đến phương thức quản lý và huy động nguồn lực. Trong đó, tính kết nối, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và khả năng thích ứng cần được đặt xuyên suốt trong quá trình tổ chức thực hiện. Khi các nhóm nhiệm vụ, giải pháp được triển khai đồng bộ, hệ thống vận tải sẽ có nền tảng để nâng cao chất lượng dịch vụ, sử dụng hiệu quả nguồn lực, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành vận tải trong giai đoạn mới.

Lê Tươi

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/lam-gi-de-hien-thuc-hoa-chien-luoc-phat-trien-dich-vu-van-tai-192260917142414664.htm