Lạm phát đối mặt sức ép từ mục tiêu tăng trưởng cao và tín dụng mở rộng

Lạm phát năm 2026 sẽ chịu áp lực gia tăng từ tác động trễ của tăng trưởng tín dụng, cùng với mục tiêu tăng trưởng GDP cao và diễn biến tỷ giá.

Năm thứ 11 thành công kiểm soát lạm phát dưới 4%

Tại Diễn đàn thường niên về Diễn biến thị trường, giá cả ở Việt Nam lần thứ nhất năm 2026, chiều ngày 12/1, TS Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, Bộ Tài chính đánh giá, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam tháng 12/2025 đã tăng 3,48% so với cùng kỳ năm 2024, trung bình tăng 0,29%/tháng.

Tính trung bình cả năm, CPI tăng 3,31%, cao hơn mức trung bình của giai đoạn 2016-2025 là 3,09%. Như vậy, đây là năm thứ 11 liên tiếp, Việt Nam thành công trong việc kiểm soát lạm phát ở mức dưới 4%. Hơn nữa, nếu tính trong 10 năm gần đây lạm phát khá ổn định.

TS Nguyễn Đức Độ trình bày tại Diễn đàn

Phân tích cụ thể, theo TS Nguyễn Đức Độ, trong năm 2025 áp lực lạm phát chủ yếu đến các yếu tố như: tăng trưởng tín dụng cao, đạt 17,65%, và tỷ giá tăng 3,92%. Bên cạnh đó, tiêu dùng phục hồi cũng khiến áp lực tăng CPI lớn hơn.

Ngoài ra, việc điều chỉnh giá điện, giá dịch vụ y tế cũng góp phần vào mức tăng của CPI. Theo tính toán của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, mức tăng 13,07% của nhóm thuốc và dịch vụ y tế đóng góp 0,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung của CPI.

Tuy vậy, tốc độ tăng CPI bình quân năm 2025 vẫn thấp hơn mức 3,63% của năm 2024. Nếu trừ đi tác động từ giá thuốc và dịch vụ y tế, có thể thấy rằng áp lực lạm phát không quá lớn.

Một trong những nguyên nhân chính là do giá nhiều hàng hóa cơ bản trên thế giới như dầu thô, sắt thép, gạo… có xu hướng giảm và trung hòa tác động tăng CPI của tỷ giá. Hơn nữa, các tác động từ tín dụng, tỷ giá thường có độ trễ, chưa kể, một phần không nhỏ của tăng trưởng tín dụng chảy vào thị trường tài sản, điển hình là thị trường bất động sản. Điều này dẫn đến hệ quả là tăng trưởng tín dụng cao tác động chủ yếu đến giá tài sản, còn tác động đến CPI không quá lớn.

Thận trọng áp lực lạm phát nếu tăng trưởng tín dụng quá cao

Bước sang năm 2026, theo TS Nguyễn Đức Độ, dự báo áp lực lạm phát tiếp tục đến từ tác động trễ của tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, do mức tăng của tín dụng trong năm 2025 không quá cao so với lịch sử 10 năm trở lại đây, một phần lớn chảy vào thị trường tài sản nên tác động đến lạm phát có thể không quá lớn.

Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong năm 2026 cũng tạo sức ép lên giá cả, bởi tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) cao đồng nghĩa với việc tổng cầu, bao gồm đầu tư và tiêu dùng, đều phải mạnh.

Tỷ giá được dự báo cũng sẽ tiếp tục tác động lên CPI, trong đó, áp lực tỷ giá trong năm 2026 được dự báo sẽ đến từ việc đẩy mạnh đầu tư và tiêu dùng, dẫn đến nhập khẩu tăng theo, trong khi tăng trưởng xuất khẩu gặp thách thức từ tăng trưởng chậm của kinh tế thế giới.

Ở chiều ngược lại, áp lực đối với lạm phát từ giá hàng hóa cơ bản trên thế giới, theo vị chuyên gia là không quá lớn khi kinh tế thế giới được dự báo tăng trưởng không cao, giá hàng hóa sẽ khó tăng mạnh trong năm 2026.

Trong năm 2025, lãi suất có xu hướng tăng nhẹ do tăng trưởng tín dụng cao hơn so với tăng trưởng huy động. Xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong năm 2026 và có tác động kiềm chế lạm phát.

"Áp lực lạm phát trong năm 2026 sẽ cao hơn so với năm 2025, nhưng không nhiều. Tốc độ tăng CPI hàng tháng được dự báo vào khoảng 0,3%/tháng và lạm phát trung bình cả năm 2026 sẽ xoay quanh mức 3,5%", vị chuyên gia dự báo.

Mặc dù vậy, theo TS Nguyễn Đức Độ, vẫn cần thận trọng, bởi áp lực đối với lạm phát từ các yếu tố tiền tệ có thể tích tụ, nếu tăng trưởng tín dụng cao được duy trì trong thời gian dài.

Trong thời gian tới, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cao, đồng thời duy trì lạm phát dưới mức mục tiêu 4-4,5%, ông cho rằng cần có sự phân công và phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.

Do tỷ lệ tín dụng GDP năm 2025 đã ở mức 146%, thuộc hàng cao so với các nước phát triển cùng trình độ, chính sách tiền tệ nên hướng đến mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, bao gồm kiểm soát lạm phát, ổn định lãi suất và tỷ giá, khống chế nợ xấu và đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.

Để đạt được mục tiêu này, tốc độ tăng trưởng cung tiền và tín dụng cần được kiểm soát ở mức hợp lý, không để tỷ lệ tín dụng/GDP tăng nhanh và mạnh, vừa tạo áp lực lên giá cả, đồng thời làm tăng rủi ro nợ xấu.

Trong khi đó, chính sách tài khóa còn dư địa, nên trong thời gian tới có thể hướng tới mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, cần tăng tốc giải ngân đầu tư công.

"Trong dài hạn, tăng trưởng cao không thể dựa vào tăng trưởng cung tiền và tín dụng, mà chỉ có thể đạt được nhờ tăng năng suất lao động trên nền tảng công nghệ", ông Độ khuyến nghị.

Nhật Linh

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/lam-phat-doi-mat-suc-ep-tu-muc-tieu-tang-truong-cao-va-tin-dung-mo-rong-post635279.antd