Làm rõ những vướng mắc pháp lý cốt lõi trong hồ sơ của 3 dự án luật thuộc lĩnh vực ngân hàng
Ngày 17/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Nhiều vấn đề trọng tâm mang tính then chốt như cơ chế tài chính đặc thù của Ngân hàng Trung ương, tiêu chí linh hoạt tỷ lệ bảo đảm an toàn, quản lý rủi ro khi ngân hàng thương mại làm đại lý tài sản bảo đảm trái phiếu doanh nghiệp, cùng các chuẩn mực phòng, chống rửa tiền đối với tài sản mã hóa đã được phân tích sâu sắc nhằm kiến tạo khung khổ pháp lý đồng bộ, chặt chẽ trước khi trình Quốc hội bấm nút thông qua.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên họp (Ảnh VPQH)
Siết chặt nguyên tắc quản trị rủi ro, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm pháp lý
Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội dưới sự chủ trì điều hành nội dung của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, các đại biểu và cơ quan thẩm tra đã tập trung phân tích, làm rõ những vướng mắc pháp lý mang tính cốt lõi trong hồ sơ dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 3 luật thuộc lĩnh vực ngân hàng.
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế - Tài chính Đoàn Thị Thanh Mai khẳng định, Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành các phương án chỉnh lý theo đề xuất của Chính phủ, song đề nghị cơ quan soạn thảo phải đặc biệt bảo đảm tính thống nhất trong nội tại các luật cũng như với các dự thảo luật đang trình Quốc hội. Đi sâu vào từng nội dung cụ thể cần tiếp tục nghiên cứu, bà Đoàn Thị Thanh Mai nhấn mạnh yêu cầu rà soát kỹ lưỡng các quy định về thu chi, kết quả tài chính và các quỹ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để bảo đảm phù hợp với pháp luật về ngân sách nhà nước; nghiên cứu cơ chế bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro, trường hợp các quỹ này không còn thì Chính phủ phải có cơ chế bù đắp.
Đồng thời, đối với việc áp dụng tỷ lệ an toàn khác so với mức quy định chung để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, Thường trực Ủy ban Kinh tế - Tài chính đề nghị làm rõ điều kiện, tiêu chí, phạm vi, lộ trình tuân thủ, cơ chế kiểm soát rủi ro và chế tài xử lý.
Về phòng, chống rửa tiền, cần có hướng dẫn chi tiết đối với các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa, phân định rõ trách nhiệm thanh tra của Thanh tra Chính phủ và các bộ, ngành, tuyệt đối không để xảy ra khoảng trống quản lý. Đặc biệt, đối với việc sửa đổi Điều 114 Luật Các tổ chức tín dụng cho phép ngân hàng thương mại (NHTM) làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), bà Đoàn Thị Thanh Mai đề nghị phải quy định chi tiết địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của NHTM, kiểm soát chặt chẽ xung đột lợi ích nhằm bảo đảm an toàn hệ thống.
Phân tích sâu hơn ở góc độ kỹ thuật lập pháp và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội Phan Chí Hiếu nêu rõ 2 vấn đề lớn.
Thứ nhất, tại khoản 3 Điều 45 Luật NHNN sửa đổi (khoản 8 Điều 1 dự thảo) quy định kết quả tài chính sau khi trích lập các quỹ và bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu của năm trước (nếu có) được nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, điểm i khoản 1 Điều 36 Luật Ngân sách nhà nước hiện hành (và dự thảo luật hợp nhất) chỉ quy định chênh lệch thu lớn hơn chi của NHNN sau khi trừ dự phòng rủi ro và trích lập các quỹ là khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%, hoàn toàn không có quy định về việc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu các năm trước. Do đó, cơ quan chủ trì cần theo sát việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước (dự kiến hợp nhất với Luật Đầu tư) để chỉnh lý đồng bộ hoặc phải có giải trình hết sức thuyết phục.
Thứ hai, về việc NHTM làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm TPDN (bổ sung điểm e khoản 2 Điều 114 Luật Các tổ chức tín dụng), ông Phan Chí Hiếu lưu ý pháp luật về chứng khoán hiện chưa có quy định cụ thể về nội dung này, do đó cần làm rõ ngay khi luật này có hiệu lực thì quy định đã đủ cơ sở pháp lý thi hành chưa, hay cần cân nhắc hiệu lực thi hành riêng để bảo đảm tính khả thi.
Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đánh giá cao tinh thần nghiêm túc, cầu thị của cơ quan soạn thảo, đồng thời lưu ý thời gian đến khi Quốc hội nhấn nút thông qua không còn nhiều. Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh nguyên tắc phải tiếp thu tối đa các ý kiến hợp lý và giải trình đầy đủ, mạch lạc từng vấn đề còn ý kiến khác nhau.
Về các nội dung cốt lõi, Chủ tịch Quốc hội đề nghị: khi cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác phải có tiêu chí xác định rõ ràng, tránh bị lạm dụng, có lộ trình đưa tỷ lệ về ngưỡng quy định và thiết lập cơ chế kiểm soát rủi ro nghiêm ngặt; đối với chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa tiền và chủ sở hữu hưởng lợi, khi luật hóa phải đi kèm hướng dẫn định lượng, cụ thể để đối tượng báo cáo thực thi thuận lợi, tránh tình trạng luật vừa ban hành lại phải sửa đổi; rà soát đúng thẩm quyền thanh tra, kiểm tra; và đặc biệt đối với hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm TPDN của NHTM, phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc quản trị rủi ro, "không biến hoạt động đại lý quản lý của ngân hàng thương mại thành giấy chứng nhận an toàn cho trái phiếu doanh nghiệp".

Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn phát biểu tại phiên họp (Ảnh: VPQH)
Làm rõ bản chất nghiệp vụ, đáp ứng thực tiễn và cam kết quốc tế
Làm rõ các vấn đề đại biểu Quốc hội và Thường vụ Quốc hội đặt ra, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn đã báo cáo giải trình chi tiết từng nội dung mang tính chuyên môn sâu, khẳng định sự cần thiết và tính hợp lý của các đề xuất điều chỉnh.
Về cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc khẳng định, thực tiễn hoạt động đòi hỏi phải có cơ chế xử lý rõ ràng cho cả hai trạng thái: chênh lệch thu lớn hơn chi thì nộp ngân sách, nhưng khi chênh lệch chi lớn hơn thu (thiếu hụt) thì bắt buộc phải có nguồn bù đắp để duy trì hoạt động đặc thù của Ngân hàng Trung ương. Nội dung này sẽ tiếp tục được cập nhật, đồng bộ hóa trong quá trình sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước và sẽ được Chính phủ quy định chi tiết bằng nghị định.
Về cơ chế áp dụng tỷ lệ bảo đảm an toàn khác biệt, Thống đốc Phạm Đức Ấn đã giải thích rõ bản chất quy định là căn cứ vào tính chất, mức độ rủi ro của từng đối tượng cụ thể chứ không nới lỏng đại trà cho toàn hệ thống. Dẫn chứng thực tế về tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (hiện quy định trần chung khoảng 40%), Thống đốc phân tích: nếu nâng lên 50% cho toàn bộ các tổ chức tín dụng thì rủi ro hệ thống sẽ rất lớn, nhưng nếu áp dụng mức 50% cho một số tổ chức tín dụng có năng lực quản trị lành mạnh, đáp ứng đầy đủ các điều kiện khắt khe thì vừa kiểm soát tốt rủi ro, vừa phục vụ đắc lực cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong những giai đoạn cần thiết. Như vậy, định hướng nhất quán của NHNN là bảo đảm an toàn cao nhất, kiểm soát chặt chẽ trong ngưỡng rủi ro cho phép.
Về việc bãi bỏ quy định kiểm tra định kỳ hàng năm của Bộ Tài chính, Thống đốc cho biết, trong nhiều năm qua, nghiệp vụ in, đúc, tiêu hủy tiền và quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước đều được Kiểm toán Nhà nước và Bộ Tài chính tiến hành kiểm tra hàng năm với nội dung trùng lặp. Việc bãi bỏ trách nhiệm kiểm tra định kỳ hàng năm là nhằm tinh giản thủ tục, tránh chồng chéo, trong khi thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành của Bộ Tài chính vẫn được giữ nguyên đầy đủ; song song đó, NHNN tiếp tục duy trì cơ chế kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ nghiêm ngặt.
Về hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm TPDN, Thống đốc nêu rõ, dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng chỉ bổ sung quy định mang tính "mở quyền" cho phép NHTM được thực hiện nghiệp vụ này (do đặc thù TCTD chỉ được làm những gì luật cho phép). Còn các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế minh bạch và tách bạch để ngăn ngừa xung đột lợi ích, tránh việc khách hàng hiểu nhầm tổ chức tín dụng đứng ra "bảo lãnh" hay bảo đảm an toàn cho trái phiếu sẽ do pháp luật về chứng khoán quy định chi tiết.
Về lĩnh vực phòng, chống rửa tiền và cam kết quốc tế, Thống đốc chia sẻ đây là nội dung rất phức tạp khi Việt Nam phải đồng thời đáp ứng các chuẩn mực, khuyến nghị của OECD, FATF và APG. Các tổ chức quốc tế thường yêu cầu quy định mang tính bao quát, định tính để tránh việc đối tượng lách luật nếu quy định quá cứng nhắc theo định lượng. Điển hình như khái niệm "chủ sở hữu hưởng lợi", sau quá trình làm việc, trao đổi kỹ lưỡng với đại diện OECD, cơ quan soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý theo hướng bảo đảm vừa phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam, vừa đáp ứng chuẩn mực quốc tế để phục vụ hiệu quả công tác đánh giá đa phương...
Hoàn thiện dự thảo với chất lượng cao nhất, sẵn sàng trình Quốc hội bấm nút

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng phát biểu kết luận phiên thảo luận (Ảnh: VPQH)
Kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và nỗ lực phối hợp chặt chẽ giữa Chính phủ, NHNN và Thường trực Ủy ban Kinh tế - Tài chính trong việc khẩn trương nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật dựa trên ý kiến của các đại biểu Quốc hội tại tổ và hội trường.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản tán thành các nội dung tiếp thu, giải trình và xác định dự thảo luật cơ bản đủ điều kiện để trình Quốc hội xem xét, biểu quyết thông qua. Để hoàn thiện dự thảo luật ở mức chuẩn xác và khả thi cao nhất, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng đề nghị ban soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ lưỡng các nguyên tắc xử lý chênh lệch thu chi, bảo đảm phù hợp với tính chất đặc thù của Ngân hàng Trung ương, thống nhất với Luật Ngân sách nhà nước hiện hành và định hướng Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất, làm rõ vị trí quy định trong luật chuyên ngành hay luật ngân sách để bảo đảm tính tuân thủ pháp luật.
Về tỷ lệ bảo đảm an toàn: Rà soát, xây dựng tiêu chí rõ ràng, chặt chẽ, gắn với cơ chế kiểm soát rủi ro phù hợp và lộ trình đưa tỷ lệ về ngưỡng quy định, bảo đảm không gây ảnh hưởng tiêu cực đến an toàn hệ thống ngân hàng.
Về phòng, chống rửa tiền: Tiếp tục rà soát thống nhất các quy định về dấu hiệu đáng ngờ, nguồn dữ liệu, nghĩa vụ của đối tượng báo cáo (nhất là mảng tài sản mã hóa); phân định rành mạch trách nhiệm thanh tra giữa Thanh tra Chính phủ và các bộ, ngành, không để chồng chéo hay bỏ sót đối tượng.
Về đại lý quản lý tài sản bảo đảm TPDN: Phân định rõ nét địa vị pháp lý, quyền, nghĩa vụ của NHTM; thiết lập cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích; phân biệt rạch ròi giữa nghiệp vụ đại lý quản lý tài sản với nghiệp vụ bảo lãnh để bảo đảm an toàn hoạt động và đồng bộ với pháp luật chứng khoán.
