Lần đầu tiên, gần 470.000 thí sinh chọn đăng ký STEM

Lần đầu tiên, hơn một nửa số nguyện vọng xét tuyển đại học của thí sinh tập trung vào các ngành thuộc lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học), đánh dấu sự chuyển dịch rõ nét trong xu hướng lựa chọn ngành nghề của người học.

Thay đổi lớn trong xu hướng lựa chọn ngành nghề

Theo số liệu tổng hợp trên Hệ thống hỗ trợ tuyển sinh chung năm 2026, cả nước có có gần 875.000 thí sinh đã nhập nguyện vọng xét tuyển đại học, với tổng cộng gần 7,2 triệu nguyện vọng, tương đương bình quân khoảng 8,2 nguyện vọng/thí sinh. Đối với nhóm ngành STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học), có 467.590 thí sinh đăng ký xét tuyển với hơn 2,3 triệu nguyện vọng, chiếm khoảng 53,4% tổng số thí sinh đăng ký xét tuyển. Đối với các ngành thuộc diện quy định tại Nghị định số 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược, có 331.693 thí sinh đăng ký xét tuyển với gần 1,3 triệu nguyện vọng.

Lần đầu tiên có khoảng gần 54% số lượng nguyện đăng ký vào các lĩnh vực liên quan đến STEM.

Lần đầu tiên có khoảng gần 54% số lượng nguyện đăng ký vào các lĩnh vực liên quan đến STEM.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT cho rằng, điểm đáng chú ý là hơn một nửa số thí sinh đăng ký xét tuyển năm nay có ít nhất một lựa chọn thuộc STEM; hơn 1/3 có lựa chọn thuộc 15 nhóm ngành được Nhà nước xác định cần ưu tiên phát triển. Nhìn vào số lượng thí sinh lựa chọn nguyện vọng vào nhóm ngành này cho thấy nhận thức của thí sinh và phụ huynh về vai trò của khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học đang có chuyển biến. Các chính sách học bổng, hỗ trợ người học; triển vọng nghề nghiệp; nhu cầu nhân lực và công tác hướng nghiệp đã góp phần tạo thêm động lực lựa chọn. Đây là tín hiệu tích cực bởi Khoa học tự nhiên cùng với Toán học, thống kê và kỹ thuật là nền tảng cho sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp bán dẫn, vật liệu mới, năng lượng, công nghệ sinh học và nhiều công nghệ chiến lược khác. Trong bối cảnh AI trở thành công nghệ nền tảng làm thay đổi hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội, những chương trình đào tạo về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo cũng như các chương trình tích hợp AI vào chuyên ngành đang ngày càng thu hút sự quan tâm của người học…

Chia sẻ với PV Báo CAND, PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh cho rằng, con số hơn một nửa thí sinh đăng ký xét tuyển vào các ngành STEM trong mùa tuyển sinh năm 2026 là một tín hiệu tích cực, phản ánh sự chuyển dịch mạnh mẽ trong nhận thức của thế hệ trẻ và gia đình về nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế số và AI tại Việt Nam. Đây không chỉ là kết quả của các chiến dịch truyền thông giáo dục mà còn là minh chứng cho sự thích ứng của xã hội với xu hướng toàn cầu, nơi STEM trở thành nền tảng cho tăng trưởng bền vững.

PGS.TS Đỗ Văn Dũng cũng nhìn nhận, đây là cơ hội vàng để Việt Nam đẩy nhanh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Theo báo cáo WEF Future of Jobs 2025, đến năm 2030, hơn 85 triệu việc làm mới sẽ xuất hiện trong lĩnh vực công nghệ, AI, năng lượng tái tạo, xe điện và chuỗi cung ứng thông minh, trong khi hàng triệu việc làm truyền thống biến mất. Xu hướng thí sinh đổ dồn vào STEM cho thấy thế hệ trẻ đã nhận ra giá trị của các ngành này trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với các dự án lớn như VinFast, bán dẫn, và chuyển đổi năng lượng. Tại các trường kỹ thuật, sự gia tăng đăng ký sẽ tạo động lực để mở rộng quy mô đào tạo, đặc biệt các chương trình liên quan đến ô tô điện, hệ thống điện điện tử, điều khiển thông minh và AI - những lĩnh vực đang có nhu cầu nhân lực cấp bách.

Hành động quyết liệt để không bỏ lỡ "cơ hội vàng"

Việc hơn một nửa số nguyện vọng đăng ký xét tuyển tập trung vào STEM là tín hiệu đáng mừng song các chuyên gia cũng lưu ý không nên nhìn nhận đơn thuần qua những con số. Thực tế cho thấy, nhiều ngành STEM có yêu cầu học tập cao, đòi hỏi tư duy logic, khả năng nghiên cứu, ngoại ngữ và kỹ năng thực hành. Nếu lựa chọn chỉ vì “ngành hot” hoặc mức lương cao mà thiếu năng lực, thiếu đam mê, người học rất dễ gặp khó khăn trong quá trình học tập. Bên cạnh đó, một vấn đề khác là khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp vẫn còn tồn tại. Điều này đặt ra yêu cầu các cơ sở đào tạo phải tiếp tục đổi mới chương trình, tăng cường thực hành, nghiên cứu và hợp tác với doanh nghiệp để sinh viên tốt nghiệp có thể đáp ứng ngay yêu cầu của thị trường lao động.

Tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và trường đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo lĩnh vực STEM.

Tăng cường liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và trường đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo lĩnh vực STEM.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo cho rằng, số lượng đăng ký mới phản ánh mức độ quan tâm ban đầu. Sự chuyển dịch chỉ trở thành kết quả thực chất khi được thể hiện qua số nhập học, đặc biệt là chất lượng đầu vào, tỷ lệ duy trì học tập, kết quả tốt nghiệp và khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực trong tương lai.

PGS.TS Đỗ Văn Dũng cũng nhìn nhận, thực tế cho thấy, số lượng lớn không đồng nghĩa với chất lượng. Do đó, cần nhìn nhận thẳng thắn những thách thức kèm theo khi vẫn còn thí sinh chọn STEM vì “hot trend” hoặc áp lực gia đình, vì các ngành kinh tế khó kiếm việc chứ chưa thực sự đam mê hay có nền tảng vững chắc. Nếu không cải tổ chương trình đào tạo, nguy cơ “cung vượt cầu về bằng cấp, thiếu về năng lực thực tiễn” vẫn tồn tại, nhất là khi hiện nay, khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành vẫn lớn: Sinh viên thiếu kỹ năng “learning by making”, làm việc nhóm liên ngành, tư duy hệ thống và ứng dụng AI vào giải quyết vấn đề thực tế. Cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm ngành và hợp tác doanh nghiệp tại nhiều trường vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu.

Để biến tín hiệu tích cực này thành bước đột phá, PGS.TS Đỗ Văn Dũng đề xuất cần các giải pháp đồng bộ ngay từ năm học 2026-2027. Thứ nhất, đẩy mạnh mô hình CDIO (rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo hàn lâm và thực tiễn nghề nghiệp) và học tập dựa trên dự án, với ít nhất 6-8 dự án thực hành mỗi học phần như đã triển khai tại một số trường đại học kỹ thuật lớn tại TP. Hồ Chí Minh. Thứ hai, tăng cường liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp để đồng thiết kế chương trình, thực tập và đặt hàng nhân lực. Thứ ba, tích hợp AI như một yếu tố cấu trúc trong toàn bộ chương trình: Từ kỹ năng cơ bản đến ứng dụng chuyên sâu, giúp sinh viên không chỉ sử dụng công cụ mà còn biết đánh giá, kiểm chứng và sáng tạo. Thứ tư, cần chính sách hỗ trợ từ Nhà nước như Thông tư 34/2026 về chuyển đổi thạc sĩ, tập trung chất lượng thay vì số lượng, đồng thời đầu tư mạnh cho giảng viên và phòng thí nghiệm hiện đại.

PGS Ali Al-Dulaimi, Trưởng khoa, Khoa Khoa học máy tính và Công nghệ, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam cũng cho rằng, nguồn tuyển dồi dào sẽ là cơ hội lớn cho các cơ sở đào tạo có các nhóm ngành liên quan đến lĩnh vực STEM. Và để khai thác tốt cơ hội vàng này, Việt Nam cần tiếp tục có những chính sách đồng bộ để nâng cao chất lượng đào tạo. Đó là nâng cấp phòng thí nghiệm, phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao, thúc đẩy đào tạo gắn với nghiên cứu, và tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong thực tập, xây dựng chương trình đào tạo và đầu tư trang thiết bị...

Theo PGS.TS Đỗ Văn Dũng, hơn 50% thí sinh chọn STEM là tin vui, nhưng thành công phụ thuộc vào cách chúng ta khai thác và định hướng dòng chảy này. Đây là thời điểm then chốt để các trường đại học kỹ thuật dẫn dắt cải cách giáo dục theo hướng thực tiễn, hội nhập và bền vững. Chỉ khi chuyển từ “số lượng” sang “chất lượng thực sự”, chúng ta mới thực sự nắm bắt cơ hội, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp hiện đại vào năm 2030-2045. Các cơ quan quản lý, nhà trường và doanh nghiệp cần hành động quyết liệt ngay hôm nay để không bỏ lỡ “cơ hội vàng” này".

Huyền Thanh

Nguồn CAND: https://cand.vn/lan-dau-tien-gan-470000-thi-sinh-chon-dang-ky-stem-post816984.html