Lần theo câu hát quê nhà
Một sáng xuân, tôi về lại vùng quê Ái Tử (xã Ái Tử, tỉnh Quảng Trị) nằm bên Quốc lộ 1-con đường thiên lý Bắc-Nam, chợt như nghe văng vẳng bên tai liên khúc bi tráng ca chiến trận 'Hòn Vọng Phu' của cố nhạc sĩ Lê Thương, như một tượng đài âm thanh sừng sững trong tâm cảm. Đất nước từ bao đời trải qua nhiều chiến chinh, tao loạn nên hình tượng hòn Vọng Phu xuất hiện ở nhiều nơi, đặc biệt nơi biên viễn, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng vì sao biểu tượng ấy lại gắn với vùng đất Quảng Trị qua câu ca dao vang vọng từ ngàn xưa: 'Mẹ thương con ra cầu Ái Tử/Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu'. Địa danh Ái Tử cũng thật lạ, dường như chỉ có ở Quảng Trị.
“Kinh đô” Ái Tử
Cũng vào mùa xuân năm 1558, chúa Tiên Nguyễn Hoàng, khi ấy là Đoan Quận công, từ Thanh Hóa vào trấn nhậm và quyết định dừng chân ở Ái Tử cùng các tướng sĩ. Theo câu chuyện còn lưu truyền trong dân gian, khi vừa xuống ngựa hỏi thăm dân làng, Đoan Quận công đã được các bô lão dâng lên 7 vò nước như thể ứng với điềm trời sẽ "được nước". Khi ấy, cậu ruột đồng thời là quân sư của ông-Nguyễn Ư Dĩ cảm khái nói: “Trời ban cho tất cả là điềm báo. Nay quan Tổng trấn mới đến mà dân đem hiến nước, đó là điềm lành báo được nước”.

Chùa Sắc Tứ ở Ái Tử - Ảnh: P.X.D
Từ đó, làng Ái Tử trở thành thủ phủ đầu tiên của nhà Nguyễn, mở ra một đại nghiệp rộng dài theo bước chân Nam tiến. Về sau, khi thủ phủ dời đi nơi khác, vùng đất này vẫn được gọi trân trọng là Cựu Dinh hay Dinh Ái Tử. Chính sử từng ghi nhận công cuộc trị dân của chúa Nguyễn Hoàng: “Việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng để răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu, tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp”.
Nhắc đến Ái Tử cũng không thể không nói tới Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang, ngôi chùa tọa lạc trên nền đất làng Ái Tử xưa, nay thuộc xã Triệu Phong. Trong một cuộc tọa đàm khoa học với chủ đề “Bước đầu tìm hiểu Phật giáo Quảng Trị” do Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán (Huế) phối hợp tổ chức tại chùa, cư sĩ Lê Mạnh Thát từng nhận định: “Vấn đề truyền thừa của Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang cần được nghiên cứu thêm để làm rõ vị thế của ngôi tổ đình này trong lịch sử Phật giáo Nam Hà nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung, vào thời kỳ mở rộng biên cương Tổ quốc về phía Nam của dân tộc ta”.
Tại ngôi chùa này, tôi cũng từng trò chuyện với hòa thượng trụ trì Thích Trí Hải (nay đã mất) về 4 tượng khỉ đá, nổi bật là 3 tượng “Tam không”: Không nghe, không thấy, không nói điều xấu. Chùa được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1991.
Ôn cố tri tân
Sáng hôm ấy, tôi còn được trò chuyện với ông Đinh Thượng Phước (thường gọi là ông Phúc), đạo hiệu Thích Chân Quang. Ông là bậc cao niên, tuổi ngoài 80, am hiểu chữ Hán và sùng kính đạo Phật. Ông cho biết dòng họ Đinh đã định cư ở Ái Tử suốt 8 đời.
Nhấp ngụm trà, ông Phước ôn tồn kể chuyện xưa: “Làng Ái Tử xưa kia là chốn rừng rậm, voi cọp và muông thú trú ngụ. Vốn là đất Chiêm Thành, sau đám cưới của Huyền Trân công chúa năm 1306 thì mới có người Việt đến sinh sống. Khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào dựng nghiệp, biết dựa vào dân nên làng Ái Tử là rường cột giúp cho ngài. Mọi lễ tế quan trọng của nhà Chúa ban ra đều được giao cho dân làng Ái Tử lo liệu”.

Tác giả trò chuyện với bô lão Ái Tử - Ảnh: P.X.D
Khi tôi hỏi về xuất xứ câu ca dao nói trên, ông Phước trầm ngâm: “Đúng là địa danh Ái Tử chỉ có ở đây, còn núi Vọng Phu thì nhiều nơi có. Quảng Trị không có núi Vọng Phu, nhưng có lẽ bởi chiến tranh, giặc giã triền miên, mẹ thương con, vợ thương chồng ra trận mạc, hứng chịu hiểm nguy làn tên mũi đạn nên người dân ghép 2 địa danh ấy lại thành câu ca: "Mẹ thương con ra cầu Ái Tử/Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu".
Nhìn ra ngoài sân, ông lại hào hứng kể về huyền thoại “Trảo Trảo phu nhân” dùng mỹ nhân kế giúp chúa Nguyễn Hoàng đánh tan giặc mạnh, góp phần mở mang bờ cõi. Ông cũng nhắc chuyện năm 1842, vua Thiệu Trị trên đường ra Bắc đã ghé thăm miếu thờ Trảo Trảo phu nhân, cảm hứng sáng tác bài thơ “Quá Ái Tử giang thuật cổ” và cho khắc vào bia đá dựng ở chùa Giác Minh (Ái Tử). Nội dung bài thơ như sau: "Vãn phiếm khinh chu quá bích phù/Giang sơn cảm tích việt mao lâm/Thần công đế tạo thiên thu tại/Thánh vũ chiêu thùy vạn cổ khâm/Trợ thuận thanh thanh tưu lãng dị/Hiệu linh trận trận tặc thuyền trầm/Hà can miếu mạo truyền huơng hỏa/Phong động ba minh trợ quốc tâm".
Bản dịch dẫn theo tác giả Lê Hoàng Nguyên: "Duềnh xanh thuyền nhẹ lướt như bay/Trấn thủ vua ta đến đất này/Vun đắp công thần muôn thuở vững/Soi ngời ơn thánh vạn thuở dày/Giúp chính, bờ vang chim thứu hót/Trợ thiêng, thuyền giặc đắm sông đầy/Sông khôn miếu mạo luôn hương khói/Sóng gào gió động giúp nước này".
Bước ra đường, tôi thấy nắng vàng như rót mật, gió nhẹ như thổi về từ quá khứ, một quá khứ đầy kiêu hùng của dân tộc. Một buổi sáng xuân vẫn còn vương vấn chưa thôi. Trong lòng tôi dâng lên niềm hân hoan, cùng ước vọng về cuộc sống ngày càng đầm ấm, an hòa trên quê hương này.











