Làng chài dưới bóng đô thị
VHXQ - Như những con sóng không ngừng vỗ bờ, áp lực đô thị hóa đang khiến các làng chài dọc theo dải bờ biển dài hơn 200 km, từ chân Đèo Hải Vân đến phía nam Núi Thành, mỗi ngày một đổi khác. Trong chiếc áo phố phường hiện đại, làm thế nào để vẫn giữ được hồn cốt làng chài mà không đi ngược lại nhịp phát triển tất yếu của đô thị biển?

Một góc làng chài Mân Thái. Ảnh: Nguyễn Hồng Huy
Xu hướng “đô thị hóa” làng biển
Hơn mười năm trước, người dân Đà Nẵng đã lấy làm lo lắng khi những làng chài căng đầy hơi thở biển như Nam Ô, Thanh Khê, Mân Thái, Thọ Quang… dần lùi vào đất liền để nhường chỗ cho khu du lịch, nhà hàng, khách sạn đẳng cấp quốc tế. Những mái nhà bình dị không còn hướng ra biển đón thuyền về mỗi sớm mai hay nhìn theo cánh buồm ra khơi mỗi khi chiều xuống.
Làn sóng đô thị hóa tiếp tục gối đầu nhau vỗ vào những bãi biển hoang sơ ở Tam Thanh, Tam Tiến, Tam Hải, Tam Quang, khiến nhiều vùng biển thay da đổi thịt thành những khu du lịch.
Nụ cười của người dân miền biển tươi hơn bởi áo cơm đủ đầy, nhà cửa kiên cố, đường nhựa trải dài đến tận mép nước. Người dân từ nhiều miền khác đến làm ăn, sinh sống, đan xen vào những làng chài truyền thống, khiến bản sắc đặc trưng của làng biển ít nhiều phôi pha.
Nhiều người đã lo ngại rằng, liệu một ngày nào đó, những làng chài mặn mòi, dung dị hàng trăm năm ấy chỉ còn là nỗi nhớ? Làm sao có thể giữ lại cách phơi cá, hấp cá, làm nước mắm truyền thống của xứ biển lúc vào vụ Nam, khi đời sống công nghiệp và du lịch đang tạo ra những hoạt động dịch vụ, thương mại dần thay thế lao động thủ công?
Nhiều lần về với làng chài cổ Nam Ô, chúng tôi có những cuộc trò chuyện miên man cùng ông Đặng Dùng, người được mệnh danh là “người chép sử” của miền đất 700 tuổi nằm dưới chân “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Qua đó, mới thấm thía rằng, điều thay đổi rõ nhất của Nam Ô và nhiều làng biển khác ở Đà Nẵng không chỉ là vẻ bên ngoài như kiến trúc nhà cửa làng mạc, phương tiện đánh bắt, nghề chế biến thủ công,... mà còn ở sự phôi phai của hồn cốt làng chài theo năm tháng.
Ai cũng biết người xứ biển khác người xứ đồng và miền núi từ lời ăn tiếng nói đến phong tục tập quán, tín ngưỡng… Tuy đều cùng cách “ăn sóng nói gió” nhưng mỗi làng biển lại có âm sắc, giọng điệu và kho từ vựng riêng do nguồn gốc di dân từ những vùng miền khác nhau. Ngày trước chỉ cần nghe giọng nói là có thể biết dân biển xứ mô, nhưng giờ đây, ngư dân làng biển đang có xu hướng “đô thị hóa” chính mình.

Làng chài Tam Tiến vẫn còn lưu giữ được nhịp sống cũ với những đoàn thuyền chở cá về sớm mai. Ảnh: Nguyễn Sanh Quốc Huy
Gìn giữ, lan tỏa giá trị văn hóa làng chài
Sống trong đô thị lớn, người dân làng chài ngày nay có thể thụ hưởng nhiều yếu tố văn minh hiện đại hơn xưa rất nhiều. Thế nhưng mỗi chuyến đi biển dù được trang bị tàu lớn, máy móc hiện đại thì họ vẫn phải đối mặt với sóng to, gió lớn.
Tương truyền cá Ông (cá voi) được nhìn nhận như một vị thần vừa cứu người, cứu thuyền gặp nạn trên biển nên được tôn làm thần Nam Hải. Bắt nguồn từ môi trường sinh tồn đầy bất trắc ấy, tín ngưỡng thờ cá Ông dần hình thành một hệ thống không gian thiêng với sự hiện hữu nhiều lăng Ông và lễ hội Cầu ngư trên khắp làng chài ven biển từ đèo Hải Vân đến phía nam xã Núi Thành.
Gần đây, ngày càng có nhiều làng chài lọt thỏm giữa khu đô thị lớn và trở thành điểm đến du lịch, nhưng cư dân xứ biển vẫn níu chặt cánh buồm và hơi thở mặn mòi vị muối trong từng giọng điệu, phong tục, lễ hội.
Khi du lịch văn hóa, sinh thái đang là “cây đũa thần” để kích cầu kinh tế, người dân làng chài vẫn cố gìn giữ sự nguyên bản của lễ hội Cầu ngư bằng cách hạn chế yếu tố trình diễn hiện đại và tiết chế các hoạt động thương mại. Bởi sự “sân khấu hóa” làm cho nghi lễ mất đi tính thiêng vốn có, khi các yếu tố trình diễn lấn át chức năng tâm linh. Trong không gian lễ hội ấy, điệu hát bả trạo hay hò khoan đậm chất biển đã góp phần làm nên hồn làng cốt biển. Có lẽ vì vậy mà lễ hội Cầu ngư ở Đà Nẵng đến nay vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn.
Về Tam Thanh, Tam Tiến, Thọ Quang… trong những ngày này, du khách vẫn thích thú khi nơi đây còn lưu giữ gần như nguyên vẹn nhịp sống của một làng chài ven biển - nơi bình minh bắt đầu bằng tiếng mái chèo khua sóng cùng những phiên chợ rộn ràng tôm cá, và hoàng hôn khép lại trong ánh nắng còn vương trên vành nón lá.
Chính vẻ đẹp của con người và văn hóa làng chài đã thu hút nhiều họa sĩ tham gia các dự án bích họa ở Tam Thanh, Tam Hải. Thú vị hơn, hơn 350 sinh viên Đại học Kiến trúc Đà Nẵng đã tham gia thực hiện dự án sách “Đà Nẵng - Mái đình làng biển”, một công trình nghiên cứu về văn hóa và kiến trúc được thực hiện suốt ba năm, góp phần gìn giữ và lan tỏa những giá trị đặc trưng của làng chài Đà Nẵng.
Có lẽ, đó cũng là một cách để giữ lại hồn cốt của làng biển giữa nhịp phát triển không ngừng của đô thị du lịch. Bởi điều làm nên sức hấp dẫn lâu bền của những vùng biển này không chỉ là những resort hay tuyến đường ven biển hiện đại, mà còn là tiếng gọi thuyền mỗi sớm mai, mùi cá phơi trong gió nồm, những mái đình làng biển trầm mặc và nếp sống mặn mòi đã bền bỉ qua bao thế hệ. Khi những giá trị ấy còn được nâng niu, làng chài sẽ không chỉ tồn tại trong ký ức, mà hiện diện như một phần hồn cốt của biển quê hôm nay.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/lang-chai-duoi-bong-do-thi-3338898.html











