Làng cổ Kim Lan - Đời sông, đời gốm

12 mảnh bản đồ làng Kim Quan (nay là làng Kim Lan, xã Bát Tràng, Hà Nội) năm 1941 cho thấy một ngôi làng Việt hiện diện rõ nét bên dòng sông Hồng.

Theo lịch sử biến động của dòng sông, qua nhiều nguồn tư liệu, chúng tôi cố gắng hình dung câu chuyện một ngôi làng cùng nghề gốm cổ gắn liền với Kinh đô Thăng Long - nay đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, từ đây, ngõ hầu hướng đến việc bảo tồn không gian văn hóa Kim Lan trong sự kết nối với hệ di sản phong phú của Thủ đô.

Một góc làng cổ Kim Lan bên sông Hồng. Ảnh: Đức Toàn

Một góc làng cổ Kim Lan bên sông Hồng. Ảnh: Đức Toàn

Đời sông

Năm 2010, dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, một lão nông người làng Kim Lan, cũng từng là thợ gốm, cán bộ xã viết một bản trường ca về lịch sử thăng trầm của ngôi làng và tha thiết: “Đổi dòng đi hỡi sông sâu/Thiên niên kỷ mới, sông mau trở mình”.

Những câu thơ cho thấy vị trí đặc biệt của sông Hồng trong cảm xúc của người dân và sự vận động của ngôi làng.

Thật vậy, trên bản đồ tên các làng (tỷ lệ 1/250.000) trong sách “Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ - Nghiên cứu địa lý nhân văn” do Pierre Gourou viết từ những năm 1930, đã hiện rõ tên Kim Quan (tên khác của Kim Lan) bên bờ tả sông Hồng, ngay dưới Bát Tràng.

Nhưng dấu tích chứng minh làng Kim Lan với lịch sử cư trú lâu đời bên dòng sông phải nhờ đến sự kiện khảo cổ học công bố sau năm 2000 của các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản. Theo đó, làng có lịch sử cư trú từ thế kỷ VIII, trải qua nhiều thế kỷ phát triển với các hoạt động sản xuất gốm, đúc tiền, giao thương ven sông, đồng thời kiến tạo một không gian văn hóa phong phú gồm đình, 4 chùa, 4 miếu, Văn chỉ, Cầu quán, gò Quốc Công…

Dấu tích của dòng sông không chỉ hiện diện trong cấu trúc không gian văn hóa làng mà còn trong ký ức sâu đậm của người dân như một minh chứng cho khả năng thích ứng, kiến tạo làng mạc của cộng đồng trước mọi biến động.

Nổi lên là những cuộc chia cắt, bồi đắp, gắn kết lớn trong suốt lịch sử nghìn năm của Kim Lan bên tả ngạn sông Hồng.

Cuộc chia cắt đầu tiên được ghi lại là vào thế kỷ XV, do sạt lở bờ sông, làng phải di dân sang bờ kia lập ra làng Kim Quan mới (nay thuộc phường Việt Hưng, Hà Nội). Điều thú vị là, qua mấy trăm năm, đến đầu thế kỷ XXI, các bậc cao niên của làng Kim Lan bằng các dữ liệu địa bạ đã chứng minh nguồn gốc chung của hai làng từ đó mà kết nối, duy trì sinh hoạt truyền thống.

Trong suốt thế kỷ XIX, theo công trình “Lịch sử đê điều Việt Nam”, Kim Quan cũng được nhắc 4 lần liên quan đến việc đắp đê, như một trong những tâm điểm chính sách trị thủy của triều đình phong kiến.

Sau này, lịch sử Đảng bộ xã Kim Lan ghi rõ, suốt mấy chục năm từ năm 1945 đến quãng năm 2000, sông Hồng nhiều lần đổi dòng, lũ lụt khiến đất Kim Lan sạt lở, mất đi nhiều xóm làng. Làng Kim Lan thời điểm năm 1958 thuộc xã Quang Minh (cùng làng Bát Tràng và làng Giang Cao) còn là chứng nhân góp sức người, góp ruộng đất để dựng xây công trường đại thủy nông Bắc Hưng Hải - một dấu ấn đặc sắc của thời kỳ đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Nhưng bên cạnh sự dữ dội, thì sông Hồng cũng “trả lại” cho Kim Lan một lịch sử thăng trầm nghề cổ. Trong nhiều năm, sóng đánh vào bờ làm sạt lở đất đã lộ ra những mảnh vỡ gốm sứ. Theo chu kỳ con nước, vào mùa cạn tháng 2, tháng 3 âm lịch, ông Nguyễn Việt Hồng, nguyên thợ gốm người làng Kim Lan từng nhiều năm làm việc tại Xí nghiệp gốm sứ Bát Tràng, nguyên Phó Chủ tịch xã Quang Minh, cùng gia đình đã nhặt về những mảnh vỡ và mỗi ngày lại trăn trở với những câu hỏi đầy thêm.

Năm 1998, ông Nguyễn Việt Hồng lập ra nhóm “Tìm lại cội nguồn của làng” gồm 5 vị cao niên, tập hợp hiện vật, tìm hiểu lịch sử, xây dựng báo cáo, chủ động kết nối nhà quản lý, nhà khoa học. Trong đó, sự hợp tác giữa chuyên gia khảo cổ học Nhật Bản - TS Nishimura Masanari và ông Nguyễn Việt Hồng, cùng người dân, chính quyền xã Kim Lan, đã mở ra một thời kỳ tái định vị bản sắc làng nghề. Sau khi TS Nishimura Masanari mất vì tai nạn giao thông trên đường đi điền dã năm 2013, ông đã được người dân Kim Lan đón về nằm lại mãi mãi trong ngôi làng bên bờ sông Hồng này.

Đời gốm

GS.TS sử học Nhật Bản Momoki Shiro, chuyên gia Việt Nam học thời Lý - Trần trong chuyến thăm làng gốm vào tháng 10 vừa qua, chia sẻ thêm với chúng tôi: Cùng với những công bố khảo cổ học tại Kim Lan sau năm 2000, sau này, TS Nishimura Masanari và TS Noriko Nishino tiếp tục công bố các nghiên cứu cho thấy nhiều hiện vật gốm tương tự ở Kim Lan từng được sử dụng làm trà cụ tại Nhật Bản. Đó là những dấu tích về sự phát triển mạnh mẽ của gốm sứ Kim Lan cũng như việc giao thương đường sông, đường biển hình thành trong giai đoạn thế kỷ XII-XIV từ ngôi làng này.

Thật vậy, bước ngoặt qua 3 đợt khảo cổ từ năm 2000 đến năm 2003 đã chỉ ra, trên mảnh đất này lưu dấu của một đời sống sản xuất gốm liên tục từ thế kỷ IX đến thế kỷ XVIII. Đặc biệt, nơi đây từng sản xuất gạch ngói, gốm sứ gia dụng phục vụ Kinh thành Thăng Long. Nhiều hiện vật quý thu nhặt được gắn với nhiều thời kỳ xây dựng, sinh hoạt của đời sống Kinh thành vẫn đang được gìn giữ, trưng bày tại nhà riêng của ông Nguyễn Việt Hồng, bên cạnh hiện vật tại bảo tàng.

Sau cạn kiệt nguồn đất sét tại làng cùng biến động lịch sử, làng nghề im ắng suốt hai trăm năm từ thế kỷ XVIII, rồi mới trở lại từ cuối những năm 1980. Hơn 20 năm kể từ khi những lò gốm đầu tiên đỏ lửa trở lại, Kim Lan một lần nữa cho thấy quá trình kiến tạo không gian làng Việt gắn bó chặt chẽ với không gian văn hóa sông Hồng.

Nhà bảo tàng gốm sứ lịch sử xã Kim Lan (gọi tắt là Bảo tàng) nằm giữa không gian các di tích miếu Bản, đình, chùa, Nhà thờ Công giáo, gần bến sông, được khánh thành năm 2012 từ nguồn xã hội hóa của các nhà khoa học và doanh nhân Nhật Bản, cũng là kết quả hợp tác của người dân, chuyên gia quốc tế và chính quyền địa phương. Với nỗ lực đặc biệt này, năm 2013, nhóm “Tìm lại cội nguồn của làng” cùng cố TS Nishimura Masanari và chính quyền địa phương được trao tặng giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội.

Vượt qua những thời điểm thăng trầm do đại dịch Covid-19 cũng như khó khăn, hạn chế về tổ chức mô hình, năm 2024, Bảo tàng mở cửa trở lại với diện mạo trưng bày mới nhờ sự góp sức của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam, Nhật Bản.

Tại đây, Bảo tàng không chỉ tiếp tục trưng bày các hiện vật khảo cổ ở Kim Lan mà còn giới thiệu nhiều hiện vật quý ghi dấu quá trình giao thương quốc tế của gốm Kim Lan trong khu vực, cũng như các hiện vật gốm từ khai quật khảo cổ học dưới nước tại Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng). Trong công bố khảo cổ học lần thứ 61 năm 2026 vừa qua, hiện vật gốm đời Đường ở Bảo tàng gốm cổ Kim Lan cũng được các nhà khoa học ghi nhận, giới thiệu.

Đáng mừng hơn, đến nay hai hạt nhân cao tuổi nhất của nhóm là ông Nguyễn Việt Hồng và ông Nguyễn Văn Nhung vẫn cần mẫn đón khách trong nước và quốc tế thăm tìm hiểu về làng, về nghề gốm. Năm 2025, hai ông đã tham gia lễ đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia - nghề gốm Kim Lan.

Từ đây, các thế hệ nghệ nhân mới của Kim Lan cũng không ngừng viết tiếp câu chuyện tái định vị bản sắc bằng chính lao động sáng tạo của mình. Nghệ nhân Phạm Nguyên kiên trì với dòng gốm vuốt tay thủ công độc đáo; nghệ nhân Hà Chuyên mở ra dòng tranh gốm Kim Lan; nghệ nhân Nguyễn Chí Phương say mê với việc khôi phục bài men cổ kết hợp từ phù sa sông Hồng với tro trấu…

Nghệ nhân ưu tú Đào Việt Bình, Chủ tịch Hội Gốm sứ Kim Lan chia sẻ, Hội Gốm sứ Kim Lan đang tiếp tục phối hợp với các chuyên gia Viện Khảo cổ học, Bảo tàng Hà Nội, Trường Đại học Văn hóa… tổ chức trưng bày hiện vật tại Bảo tàng theo hướng hiện đại, hấp dẫn hơn, thu hút mạnh mẽ hơn du khách tới với Kim Lan cũng như tham quan các di tích trong không gian văn hóa làng. Hướng đi này cũng đã được tiếp thêm động lực khi năm 2024, Kim Lan được công nhận là điểm đến du lịch của thành phố Hà Nội.

TS Nguyễn Trường Giang, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học khẳng định, Bảo tàng Kim Lan có thể xem là một trong những bảo tàng khảo cổ học cộng đồng đầu tiên của Việt Nam, đồng thời là một mô hình sáng tạo, nguồn cảm hứng cho nhiều cộng đồng khác trên khắp các địa phương cùng chung tay gìn giữ di sản của mình.

Một lần nữa những câu thơ của ông Nguyễn Việt Hồng trở lại cho thấy cách người dân nhìn dòng sông, qua bấy nhiêu biến động, chỉ như một thử thách, được nhân hóa, trở thành động lực cho việc không ngừng kiến tạo không gian làng, xã của mình.

Tôi vẫn luôn ấn tượng những mùa vờ thú vị trên sông Hồng từ bến sông dốc đình Kim Lan (từ tháng 2 đến tháng 4 âm lịch). Những cánh vờ mỏng trong buổi sớm tinh sương dưới mặt nước dòng sông lấp lánh, đã thực sự nhắc nhở chúng ta về một hệ sinh thái đời sống văn hóa tinh thần, vật chất của làng Việt Bắc Bộ gắn liền với dòng phù sa sông Cái.

Làng Kim Lan (xã Kim Lan), sau sáp nhập địa giới hành chính nay thuộc xã Bát Tràng - cũng là một không gian di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Làm gì để vốn quý lịch sử, văn hóa ấy chuyển hóa thành nguồn lực phát triển bền vững nơi những ngôi làng cổ ven sông và đặc biệt là kết nối với câu chuyện Kinh đô Thăng Long? Câu trả lời thực sự cần một cuộc đồng kiến tạo của người dân, chính quyền địa phương và các nhà khoa học.

Hải Giang - An Nhi

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/lang-co-kim-lan-doi-song-doi-gom-1764709.html