Làng đan đó hơn 200 năm tuổi giữa miền quê Hưng Yên

Để tìm hướng đi mới, nghệ nhân làng đan đó Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên, vừa bền bỉ giữ nghề vừa chuyển dịch làm du lịch nông thôn, du khách có thể trải nghiệm những cung bậc cảm xúc khi về với làng nghề.

Hình ảnh chiếc xe đạp thồ cùng với những chiếc đó, những ngư cụ nông nghiệp rong ruổi khắp nơi từ lâu đã in sâu trong tâm trí nhiều người khi nhắc đến làng nghề đan đó Tân Hưng. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Hình ảnh chiếc xe đạp thồ cùng với những chiếc đó, những ngư cụ nông nghiệp rong ruổi khắp nơi từ lâu đã in sâu trong tâm trí nhiều người khi nhắc đến làng nghề đan đó Tân Hưng. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Cách Hà Nội khoảng 60km, xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ cũ nay là xã Tân Hưng tỉnh Hưng Yên, vẫn giữ được dáng vẻ thân thuộc của một làng quê Bắc Bộ với những mái ngói cũ, hàng tre xanh và những con đường làng có đoạn còn gập ghềnh đất sỏi.

Giữa nhịp sống đang từng ngày đổi thay, ở hai thôn Tất Viên và Nội Lăng, tiếng chẻ tre, tiếng nan tre lách cách vẫn còn vang lên bên những hiên nhà. Đó là âm thanh của một nghề đã tồn tại hơn hai thế kỷ: nghề đan đó.

Chiếc đó từng là vật dụng quen thuộc của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, theo chân họ ra đồng, xuống mương để bắt cá, tôm, cua. Nay, khi những phương thức đánh bắt truyền thống dần ít được sử dụng, nghề đan đó ở Tân Hưng cũng không còn thời vàng son như trước nhưng những người thợ nơi đây vẫn kiên trì giữ nghề. Với người Tân Hưng, giữ nghề không đơn thuần là giữ một kế sinh nhai. Đó còn là cách họ giữ lại một phần ký ức của làng.

Hơn hai thế kỷ giữ nghề bên những mái nhà xưa

Nghề đan đó ở Tân Hưng đã có từ hơn hai thế kỷ và hiện vẫn được gìn giữ và phát triển. Khoảng 500 người dân trong làng đang gắn bó với nghề này, trong đó, hai thôn Nội Lăng và Tất Viên là những nơi phát triển nghề đan đó mạnh mẽ nhất. Nghề đan đó không chỉ là nguồn thu nhập chính cho nhiều gia đình mà còn là biểu tượng của sự khéo léo và tinh tế của người dân làng nghề.

Khi đến thăm các gia đình trong thôn, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh các cụ ông, cụ bà ngồi trước hiên nhà, đôi tay thoăn thoắt đan những chiếc đó. Những chiếc đó xinh xắn,vừa là sản phẩm nghệ thuật vừa là công cụ đánh bắt cá hiệu quả,được hoàn thành chỉ trong thời gian ngắn nhờ sự điêu luyện của những người thợ lành nghề.

Trong ký ức của những người lớn tuổi, đã có một thời gần như nhà nào trong làng cũng biết đan đó. Những ngày nông nhàn, người già, phụ nữ, thanh niên, thậm chí trẻ nhỏ đều có việc để làm. Người chẻ tre, người vót nan, người ngồi đan. Trước sân mỗi nhà là những bó nứa, những nan tre được phơi thành từng lớp; những chiếc đó hoàn thiện được xếp thành từng chùm.

Các nghệ nhân trong làng vẫn ngày ngày duy trì nghề của cha ông để lại. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Các nghệ nhân trong làng vẫn ngày ngày duy trì nghề của cha ông để lại. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Công việc cứ thế nối tiếp công việc, từ đời này sang đời khác. Người dân trong làng vẫn truyền nhau câu:

“Làng Tất có nghiệp có nghề

Có nghiệp đan đó có nghề làm hom.”

Hầu như mọi người ở Tân Hưng từ già, trẻ, trai gái đều biết đan, bởi thế nghề đan đó dường như không cần một lớp học riêng. Trẻ con học từ người lớn ngay trong chính căn nhà của mình. Nhìn ông bà, cha mẹ làm rồi bắt chước, làm hỏng thì sửa, làm mãi thành quen. Lúc khoảng 5-6 tuổi, trẻ con trong làng chưa thể hoàn thành một chiếc đó thì được tập những phần đơn giản như làm hom miệng. Lớn thêm một chút, các em học đến cạp, vành miệng rồi mới làm những công đoạn khó hơn.

Ngày trước, nghề từng nuôi sống nhiều gia đình. Những chiếc đó được đưa ra các chợ quê, theo những chuyến xe, chuyến gánh đến nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Hàng năm, làng từng cung cấp hàng trăm nghìn sản phẩm cho những vùng có nhiều đồng chiêm trũng, ao hồ, kênh mương như Hà Nam, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang... Nghề đan đó dù được xem là nghề phụ bên cạnh ruộng đồng nhưng từng đem lại một phần đáng kể thu nhập cho các hộ gia đình.

Từ cây nứa già đến chiếc đó tròn vành, nhọn đuôi

Nguyên liệu chủ yếu là tre hoặc nứa già. Nứa được đưa về từ các tỉnh miền núi như Thanh Hóa, Yên Bái và một số địa phương khác. Chọn được nguyên liệu tốt là bước đầu tiên quyết định chất lượng sản phẩm.

Sau khi có nứa, người thợ tiến hành chẻ nan. Đây là công đoạn đòi hỏi kinh nghiệm, phần lớn do đàn ông đảm nhận. Nan được chia thành nhiều loại để phục vụ từng vị trí khác nhau trên chiếc đó như nan suốt, nan so le, nan hom, nan khóa... Mỗi loại có kích thước riêng, phải được chẻ và vót đều, đủ mỏng nhưng không được quá mềm.

Người lành nghề có thể xử lý nan bằng những thao tác rất nhanh. Có người vẫn giữ cách vót nan bằng tay và cằm-một kỹ thuật quen thuộc được truyền lại trong làng.

Tuy không còn là nghề đem lại thu nhập chính nhưng nhiều người dân Thủ Sỹ vẫn rất yêu nghề và mong muốn giữ nghề như một nét đẹp văn hóa. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Tuy không còn là nghề đem lại thu nhập chính nhưng nhiều người dân Thủ Sỹ vẫn rất yêu nghề và mong muốn giữ nghề như một nét đẹp văn hóa. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Nan sau khi chẻ được phân loại, xử lý rồi mới đưa vào đan. Tùy sản phẩm mà kích thước và cách làm có khác nhau. Đó thường có dáng bầu dục, miệng nhỏ và tròn, thân thuôn dần về phía đuôi. Các đường đan phải đều, các lớp đan cân đối cả mặt trong lẫn bên ngoài.

Trong các công đoạn, phần hom miệng thường dễ làm hơn, còn cạp, vành miệng và phần kết thúc ở đuôi đòi hỏi kỹ thuật cao hơn. Chỉ cần sai một nhịp đan, chiếc đó có thể bị méo, mất dáng.

Ngoài đan đó, người Tân Hưng còn làm rọ, lờ, dậm và nhiều loại dụng cụ mây tre khác phục vụ việc đánh bắt thủy sản.

Sau khi hoàn thiện phần đan, sản phẩm còn phải được phơi hoặc hun để tăng độ bền. Với những chiếc đó cần lên màu nâu cánh gián, công đoạn hun khói đặc biệt quan trọng. Đó được đặt trên gác bếp, hun bằng rơm với ngọn lửa nhỏ và đều. Lửa không được bùng lên bởi có thể làm cháy hoặc biến dạng nan. Những người thợ lâu năm cho rằng phải hun qua nhiều lần lửa, sản phẩm mới lên được màu đẹp, đều và có độ bền cao. Đó cũng là một trong những bí quyết mà người trẻ muốn học nghề phải mất thời gian mới nắm được.

Nhìn một chiếc đó hoàn chỉnh, nhiều người có thể nghĩ đó chỉ là một vật dụng đơn giản nhưng để làm ra một sản phẩm chắc, đẹp và cân đối, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn. Giá trị của chiếc đó không nằm ở vật liệu đắt tiền bởi tre, nứa vốn là những thứ rất đỗi bình thường mà nằm ở bàn tay người thợ, ở kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều năm và ở những kỹ thuật tưởng đơn giản nhưng không dễ để làm thật đẹp.

Khi chiếc đó tìm được một đời sống mới

Khoảng hơn chục năm trở lại đây, nghề đan đó ở Tân Hưng đối diện với không ít khó khăn. Cách đánh bắt thủy sản thay đổi khiến những chiếc đó, chiếc rọ không còn được sử dụng phổ biến như trước. Ruộng đồng thu hẹp, nguồn cá tôm tự nhiên giảm, thu nhập từ đan đó không đủ sức hấp dẫn lớp trẻ lựa chọn làm kế sinh nhai chính. Nhiều thanh niên rời quê đến các khu công nghiệp, những người có điều kiện thì tiếp tục học hành. Những người ở lại với nghề phần lớn là những người đã quen với công việc từ nhỏ.

Nhưng nghề đan đó không vì thế mà biến mất, nó đang tìm một cách khác để tồn tại. Từ một dụng cụ đánh bắt cá, chiếc đó ngày nay được sử dụng trong trang trí nhà hàng, quán cà phê, khách sạn, không gian nội thất và các hoạt động nghệ thuật. Những chiếc đó được ghép thành cụm, lắp bóng đèn phía trong, tạo thành những chiếc đèn mang dáng dấp mộc mạc, gợi nhớ không gian làng quê. Chính sự thay đổi này đã mở thêm một cánh cửa cho nghề.

Sản phẩm của Tân Hưng do đó đã được đưa đi nhiều tỉnh, thành trong nước và xuất khẩu. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Sản phẩm của Tân Hưng do đó đã được đưa đi nhiều tỉnh, thành trong nước và xuất khẩu. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Những sản phẩm của Tân Hưng do đó đã được đưa đi nhiều tỉnh, thành trong nước và xuất khẩu sang một số thị trường như Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản... Theo các nghệ nhân, khách nước ngoài thường bị thu hút bởi chất liệu tự nhiên và vẻ đẹp giản dị của sản phẩm.

Có những chiếc đó trước đây được người nông dân mang ra đồng, nay lại xuất hiện trong một nhà hàng hay một không gian nghệ thuật ở cách xa Việt Nam hàng nghìn cây số.

Với người dân Tân Hưng, đó là một sự chuyển mình đáng mừng. Bởi khi chiếc đó không còn phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu đánh bắt cá, nghề có thêm cơ hội để sống bằng những công dụng mới.

Không chỉ sản xuất theo mẫu truyền thống, người dân cũng bắt đầu nghĩ đến những sản phẩm có tính ứng dụng cao hơn. Những mẫu đèn, cụm đó trang trí hay các sản phẩm kết hợp giữa đan lát truyền thống và thiết kế hiện đại đang mở ra hướng đi mới cho làng nghề.

Giữ nghề từ những đôi tay và câu chuyện làng quê

Một trong những điều khiến Tân Hưng có sức hút riêng không chỉ nằm ở những chiếc đó mà còn ở chính không gian làng quê nơi nghề được lưu giữ. Từ tỉnh lộ rẽ vào, những mái nhà cũ, hàng cây, bờ ruộng và những con đường làng đưa du khách ra khỏi nhịp sống đô thị. Vào những ngày đẹp trời, trước sân các gia đình có thể bắt gặp những chùm đó được buộc lại với nhau, trông giống những bông hoa tre khổng lồ.

Ở đó, người già vừa làm nghề vừa trò chuyện. Tiếng nan tre lách cách hòa với tiếng nói cười. Với những người lần đầu đến làng, đó là một khung cảnh khó tìm thấy trong cuộc sống hiện đại. Tân Hưng vì thế có tiềm năng để phát triển du lịch làng nghề, nhất là loại hình du lịch trải nghiệm.

Thay vì chỉ nhìn những sản phẩm đã hoàn thiện, du khách có thể được tìm hiểu toàn bộ quy trình làm ra một chiếc đó: từ chọn nứa, chẻ nan, vót nan, tạo khung đến đan và hun. Những người thợ có thể trực tiếp hướng dẫn du khách làm thử một vài công đoạn đơn giản.

Hình ảnh những chiếc đó cùng với người nông dân đi qua cánh đồng lúa đã tạo nên bức tranh làng quê Thủ Sỹ bình yên và đậm đà nét văn hóa vùng đồng bằng Bắc bộ. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Hình ảnh những chiếc đó cùng với người nông dân đi qua cánh đồng lúa đã tạo nên bức tranh làng quê Thủ Sỹ bình yên và đậm đà nét văn hóa vùng đồng bằng Bắc bộ. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)

Hai thôn Tất Viên và Nội Lăng hiện được công nhận là làng nghề truyền thống đan rọ, đó. Chính quyền địa phương cũng đang hướng đến việc gắn nghề với du lịch nông thôn, khuyến khích người dân giữ nghề và tạo thêm những sản phẩm phù hợp với thị trường. Nếu được tổ chức bài bản, câu chuyện về chiếc đó có thể trở thành một cách kể về văn hóa lúa nước, về đời sống làng quê và về sự thích ứng của một nghề truyền thống trước những thay đổi của thời đại.

Tuy nhiên, con đường để nghề đan đó tồn tại lâu dài vẫn còn nhiều việc phải làm. Thu nhập từ nghề chưa cao, nguồn nguyên liệu phụ thuộc vào các địa phương khác và người trẻ chưa thực sự mặn mà là những bài toán không dễ giải quyết. Nhưng có lẽ điều đáng quý nhất ở Tân Hưng lúc này là nghề vẫn còn người làm, còn người biết và còn những người muốn truyền lại. Bởi một làng nghề không chỉ tồn tại bằng số lượng sản phẩm bán ra mà được sống trong ký ức của những người từng ngồi bên hiên nhà chẻ nứa, trong đôi tay của những người thợ già và trong sự tò mò của những đứa trẻ đang học cách luồn từng nan tre.

Rời Tân Hưng, hình ảnh dễ khiến người ta nhớ nhất có lẽ vẫn là những chùm đó xếp bên đường, những chiếc xe chở đầy sản phẩm đi qua cánh đồng và những mái nhà nằm yên dưới bóng tre.

Hơn 200 năm đã trôi qua, chiếc đó vẫn ở đó dù công dụng, thị trường đã khác và cuộc sống của người làm nghề cũng đã khác xưa nhưng khi được gắn với du lịch và có đầu ra ổn định, làng nghề đan đó Tân Hưng không chỉ giúp bảo tồn nét đẹp dân gian mà còn tạo ra sinh kế bền vững cho người dân./.

(Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/lang-dan-do-hon-200-nam-tuoi-giua-mien-que-hung-yen-post1135611.vnp