Làng nghề, làng Tiến sĩ bên dòng Bái Giang
Làng Bưởi Nồi (Đại Bái) xưa thuộc tổng Bình Ngô, huyện Gia Định, trấn Kinh Bắc; nay thuộc xã Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề gò dát đồng - nghề thủ công cổ truyền làm nên danh tiếng Đại Bái.
Bên dòng Bái Giang, làng Bưởi Nồi (Đại Bái) không chỉ là cái nôi của nghề gò đúc đồng trứ danh xứ Kinh Bắc, mà còn là miền đất khoa bảng, nơi nhiều bậc hiền tài lưu danh sử sách. Qua nhiều thế hệ, nơi đây kết tinh hài hòa giữa truyền thống nghề nghiệp bền bỉ và tinh thần hiếu học sâu rễ.
Làng Bưởi Nồi (Đại Bái) xưa thuộc tổng Bình Ngô, huyện Gia Định, trấn Kinh Bắc; nay thuộc xã Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa tìm được tư liệu xác đáng để làm rõ lịch sử hình thành của làng trước thế kỷ X. Tuy nhiên, các văn bản cổ cho thấy, trước thế kỷ XVII, Đại Bái từng mang tên Văn Lãng - địa danh đã được khắc ghi trên văn bia tại đình Văn Lãng.
Danh xưng “Tiến sĩ đồng” Đại Bái
Đầu thế kỷ XX, Đại Bái là một làng thuộc tổng Bình Ngô. Khi đó, tổng Bình Ngô gồm 9 xã: Bình Ngô, Đông Coi, Nghi Khúc, Thường Vũ, Trương Xá, Yên Ngô, Ngọc Xuyên, Đoan Bái và Đại Bái. Sau năm 1945, ba xã Ngọc Xuyên, Đoan Bái và Đại Bái được sáp nhập, lấy tên chung là Đại Bái.
Riêng làng Đại Bái có bốn xóm: Tây, Ngoài, Giữa và xóm Sôm. Trong đó, xóm Sôm là xóm mới, được hình thành từ thời nhà Mạc. Trên dải đất cao ven dòng Bái Giang xưa, Đại Bái cùng với Đoan Bái không chỉ nổi tiếng là cái nôi của nghề gò đúc đồng trứ danh, mà còn được biết đến như một miền quê hiếu học, sản sinh nhiều nhà khoa bảng lưu danh sử sách.
“Muốn ăn cơm trắng cá trôi
Thì về làng Bưởi đánh nồi với anh
Muốn ăn cơm trắng cá ngần
Thì về làng Bưởi cầm cân buôn nồi”.
Những câu ca dao mộc mạc, đằm sâu ấy từ lâu đã trở thành lời mời gọi thân thương, đưa bao thế hệ tìm về Đại Bái - Bưởi Nồi, quê hương của nghề gò đúc đồng nổi tiếng khắp cả nước.

Bia 'Diên Phúc tự bi' tại chùa Diên Phúc, do Thám hoa Nguyễn Danh Thực soạn.
Theo truyền ngôn, nghề gò dát đồng ở Đại Bái bắt nguồn từ cụ tổ nghề Nguyễn Công Truyền, sống vào thời vua Lý Thái Tổ. Sau thời gian học hỏi tinh hoa nghề đúc đồng ở Trung Hoa, cụ trở về truyền dạy cho dân làng, đưa Đại Bái trở thành trung tâm đúc đồng lớn. Nhiều sản phẩm kim khí quan trọng của triều đình xưa đều phải nhờ đến bàn tay tài hoa của thợ Đại Bái.
Khi qua đời, cụ Nguyễn Công Truyền được triều đình nhiều lần sắc phong, từ “Dực bảo trung hưng linh phú chi thần” đến “Quang úy địch bảo trung hưng trung đẳng thần” và cuối cùng là “Đoan đúc tôn thần”. Ba lần được truy phong, cụ đều được tôn xưng là “thần”, đủ cho thấy công lao, tài năng và đức độ của vị Thánh tổ nghề đồng, người đã để lại cho hậu thế bài học sâu sắc về giá trị của lao động và tri thức: “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”.
Trải qua nhiều thế kỷ gắn bó với nghề, người Đại Bái không ngừng chắt lọc và bồi đắp tinh hoa theo từng thời đại. Đến thời Nguyễn, làng có năm người tiêu biểu, đại diện cho năm dòng họ, được triều đình trọng dụng và vời vào cung để đảm trách việc chế tác các tác phẩm kim khí quan trọng. Năm vị này được gọi là “hậu thiên sư”, gồm các cụ có tự: Phúc Thành, Phúc Tâm, Phúc Thái, Phúc Lai và Phúc Nghĩa.
Danh tiếng của năm vị hậu thiên sư vang xa khắp nơi, được dân gian tôn xưng là “Tiến sĩ đồng”. Dù không phải tước vị chính thức trong khoa bảng, danh xưng ấy mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, vừa khẳng định trình độ tinh xảo của nghề đúc đồng đất Kinh Bắc, vừa cho thấy tài nghệ điêu luyện của thợ Việt trước bạn bè bốn phương. Chính những giai đoạn rực rỡ ấy đã tạo nền tảng bền vững, giúp nghề đúc đồng Đại Bái được gìn giữ và phát triển liên tục, không bị mai một theo thời gian.
Nơi sản sinh văn thần, võ tướng
Không chỉ nổi danh với nghề gò đúc đồng, Bưởi Nồi còn là vùng đất khoa bảng trù phú, ghi dấu nhiều bậc đại khoa trong lịch sử. Làng có các danh sĩ như Phạm Hoảng (Hoàng giáp năm 1535), Nguyễn Hoằng Diễn (Hoàng giáp năm 1541), Nguyễn Hoằng Ngạn (Hoàng giáp năm 1550), Nguyễn Thầm (Tiến sĩ năm 1559), Nguyễn Kì Phùng (Hoàng giáp năm 1580) và Nguyễn Công Tạo (Tiến sĩ năm 1640).
Cùng thời, Bưởi Nồi còn có võ tướng nổi tiếng Gia quận công Nguyễn Công Hiệp, trấn thủ Nghệ An, người để lại nhiều công lao với quê hương như dựng cầu qua sông Bái Giang, xây chùa Diên Phúc, chùa Tĩnh Lự và khởi xướng lệ “Tết cùng” trong làng.
Chính truyền thống hiếu học và nghĩa tình ấy đã hun đúc nên chí tiến thủ của Nguyễn Danh Thực (còn gọi Nguyễn Văn Thực), sinh năm Tân Mùi (1631) trong một gia đình Nho học. Cha mất sớm khi ông mới 13 tuổi, mẹ tần tảo nuôi con, nhưng Nguyễn Danh Thực sớm bộc lộ tư chất thông minh, ham học.
Không rõ ông theo học thầy nào, song năm 1648, mới 17 tuổi, ông đã dự thi Hội, vào đến Tam trường, đỗ Sĩ vọng và được bổ dụng làm việc tại bộ Hộ. Đến khoa Kỷ Hợi (1659) đời vua Lê Thần Tông, ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa), cùng Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh và Bảng nhãn Nguyễn Văn Bích ghi danh vào hàng Tam khôi, góp thêm một dấu son rực rỡ cho truyền thống khoa bảng của làng Bưởi Nồi.
Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Danh Thực được bổ nhiệm vào Hàn lâm viện, phong tước Hải Sơn nam. Năm sau, ông được cử làm Tham chính Thanh Hóa. Tại đây, Nguyễn Danh Thực đã xử lý nghiêm minh vụ án Lê Liêu Nguyên - một vụ việc gây chấn động đương thời liên quan đến hành vi nhũng lạm.
Dù Lê Liêu là người quen, từng cùng đỗ một khoa, ông vẫn lấy công nghĩa làm trọng, xét xử thẳng thắn, khiến triều đình và dư luận đều kính phục. Vua Lê Huyền Tông đặc cách ban thưởng 100 quan tiền và triệu ông về triều, giao giữ chức Hồng lô tự khanh.
“Đại Việt sử ký toàn thư” ghi lại rằng nhà vua khen Nguyễn Danh Thực không thiên vị người thân quen, xử án công minh nên được thưởng và thăng chức.
Năm 1667, ông theo chúa Trịnh Căn đi đánh quân Mạc ở Cao Bằng, lập công và được thăng Binh bộ Thị lang kiêm Phó Đô ngự sử. Sau đó, sự nghiệp quan trường của Nguyễn Danh Thực liên tục thăng tiến: năm 1673 làm Lại bộ Tả thị lang; năm 1683 kiêm các chức Bồi tụng, Đô Ngự sử đài, Nhập thị Kinh diên, phong tước Hải Sơn tử; đến năm 1690 giữ chức Binh bộ Thượng thư.
Làm quan thanh liêm, chính trực, Nguyễn Danh Thực luôn nặng lòng với quê hương. Khi làng làm đường mà ông chưa kịp đóng góp, ông canh cánh trong lòng. Sau này, toàn bộ tiền thưởng của triều đình, ông dành để làm con đường Dinh cho làng - con đường vẫn còn dấu tích đến ngày nay.
Sử liệu cho thấy Nguyễn Danh Thực đặc biệt quan tâm đến giáo dục và khoa cử. Ông nhiều lần dâng sớ đề nghị tu sửa, mở mang Quốc Tử Giám, xây thêm nhà học ở các trấn, nhằm mở rộng cơ hội học tập, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài cho đất nước. Nhờ đó, nền khoa cử thời kỳ này được chấn chỉnh theo hướng nghiêm túc, công bằng hơn.
Với uy tín và năng lực, Nguyễn Danh Thực được triều đình giao làm giám khảo các khoa thi lớn vào các năm 1685, 1688 và 1691. Những khoa thi này đều được đánh giá khách quan, nghiêm minh, tuyển chọn nhiều nhân tài cho đất nước như Đặng Đình Tướng, Nguyễn Đăng Đạo, Vũ Thạnh…
Nguyễn Danh Thực làm quan qua bốn triều vua Lê: Lê Thần Tông, Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông và Lê Hy Tông, đảm nhiệm nhiều trọng trách trong triều. Ông mất năm 1693, khi đang giữ chức Tham tụng Binh bộ Thượng thư, được truy thăng Lại bộ Thượng thư và phong tước Hải Quận công, để lại dấu ấn sâu đậm của một bậc đại khoa tận trung, trọng học và vì dân.

Hệ thống bia đá cổ lưu giữ lịch sử và truyền thống khoa bảng của Đại Bái.
Dấu ấn cội nguồn bên dòng Bái Giang
Đại Bái là vùng đất hội tụ nhiều di tích gắn liền với lịch sử làng xã, nghề nghiệp truyền thống và đời sống tín ngưỡng dân gian. Nổi bật trong hệ thống di sản là đình Diên Lộc, chùa Diên Phúc và lăng mộ tổ nghề Nguyễn Công Truyền - ba công trình đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia. Cùng với các di tích khác như đình Văn Lãng, điếm Sôn, giếng Ông Gióng, quần thể này tạo nên một không gian di sản giàu giá trị lịch sử - văn hóa của làng Bưởi Nồi - Đại Bái.
Đình Diên Lộc là nơi thờ tổ nghề gò dát đồng Nguyễn Công Truyền và các vị hậu thiên sư. Bị phá hủy trong chiến tranh, đình được nhân dân phục dựng năm 1992 trên nền cũ, theo bố cục kiến trúc truyền thống kiểu chuôi vồ. Dù sử dụng vật liệu hiện đại, công trình vẫn giữ dáng vẻ cổ kính với mái đao cong, hình tượng “lưỡng long chầu nguyệt”. Hậu cung đặt tượng tổ nghề cùng nhiều đồ thờ bằng đồng tinh xảo, vừa có giá trị mỹ thuật, vừa thể hiện rõ bản sắc nghề truyền thống của Đại Bái.
Cùng được thờ tại đình Diên Lộc là năm vị hậu thiên sư: Nguyễn Viết Lai, Nguyễn Xuân Nghĩa, Vũ Viết Thái, Phạm Ngọc Thanh và Nguyễn Công Tâm - những người có công lớn trong việc kế tục và phát triển nghề gò đồng của làng. Đình hiện còn lưu giữ nhiều tư liệu, cổ vật quý, tiêu biểu là ba đạo sắc phong cho tổ nghề Nguyễn Công Truyền vào các năm 1913, 1917 và 1924, cùng pho tượng chân dung tổ nghề bằng đồng có giá trị nghệ thuật cao.

Giếng cổ Ông Gióng - dấu tích sinh hoạt cổ của làng Đại Bái.
Hằng năm, hội đình Diên Lộc được tổ chức vào ngày 29/9 âm lịch - ngày giỗ tổ nghề, cùng các lễ xuân thu nhị tế, thu hút đông đảo con em Đại Bái ở khắp nơi trở về dâng hương, tri ân tổ nghiệp.
Lăng mộ tổ nghề Nguyễn Công Truyền nằm tại xứ đồng Lít (xóm Ngoài), được xây dựng trang trọng năm 1997. Tại đây còn bia đá “Vạn đại công đức”, ghi khắc công lao của vị Thánh tổ nghề đồng.
Chùa Diên Phúc - chùa làng Đại Bái - vừa là nơi thờ Phật, vừa là nơi tưởng niệm đại thần Nguyễn Công Hiệp thời Lê - Trịnh. Chùa hiện còn bảo tồn nhiều tượng, bia, chuông cổ quý giá, là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng, với lễ hội truyền thống tổ chức hằng năm vào ngày 26/3 âm lịch.
Bên cạnh đó, đình làng Đoan Bái (Văn Thịnh), nằm ven sông Bái Giang, cũng là một di tích tiêu biểu, thờ Lạc Thị Đại Vương - vị Thủy thần gắn với tín ngưỡng cội nguồn của cư dân vùng châu thổ. Hệ thống di tích này phản ánh sinh động bề dày lịch sử, văn hóa và tinh thần hiếu học - trọng nghề của các làng cổ Bưởi Nồi xưa.
Theo các ghi chép, sưu tầm của GS Bùi Văn Nguyên, trong bối cảnh đất nước rối ren, đời sống nhân dân nhiều cơ cực, cụ Nguyễn Công Truyền đã theo đường cái quan sang Trung Quốc học nghề. Nhận thấy trong nước chưa có nghề đúc đồng, trong khi đây lại là nghề thủ công tinh xảo bậc nhất ở phương Bắc, cụ dốc tâm học hỏi, rèn luyện đến mức tinh thông, qua đó đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của nghề đồng Đại Bái sau này.
Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/lang-nghe-lang-tien-si-ben-dong-bai-giang-post765849.html











