Lăng vua Thiệu Trị được xây cất như thế nào?
Sau khi vua Thiệu Trị băng hà, vua Tự Đức đã cho xây Xương Lăng theo di nguyện của cha mình.
Thiệu Trị tên là Nguyễn Phúc Miên Tông, con trai trưởng của vua Minh Mệnh. Nhà vua lên ngôi lúc 34 tuổi, ở ngôi được 7 năm (1841-1847) thì băng hà, hưởng thọ 41 tuổi.

Toàn cảnh lăng vua Thiệu Trị. Nguồn: disantrangan.
Nơi an nghỉ của vua Thiệu Trị
Trước khi băng hà, vua ban lời ngọc dụ về việc làm lăng táng cho mình: “Chỗ đất làm sơn lăng, nên chọn chỗ bãi cao chân núi cận tiện, để cho dân binh dễ làm công việc. Còn đường ngầm đưa quan tài đến huyệt, bắt đầu từ Hiếu lăng, nên bắt chước mà làm. Còn điện vũ liệu lượng mà xây dựng, cốt cho kiệm ước, không nên làm nhiều đền đài, lao phí đến tài lực của binh dân”.
Vâng mệnh cha, vua Tự Đức đã sai các quan Địa lý đi chọn đất xây lăng. Họ tìm được cuộc đất tốt ở chân núi thấp thuộc làng Cư Chánh, cách Kinh Thành chừng 8 km để xây cất lăng mộ. Ngọn núi ấy được đặt tên là núi Thuận Đạo và lăng ấy có tên Xương Lăng.
Sách Đại Nam nhất thống chí chép: Xương Lăng, nơi an táng Hiến Tổ Chương Hoàng Đế, ở xã Cư Chính, huyện Hương Thủy (phủ Thừa Thiên). Năm Tự Đức thứ nhất (1848), dâng tên núi là Thuận Đạo và dâng tên lăng.
Quá trình xây cất Xương Lăng diễn ra gấp rút, nên chỉ sau ba tháng thi công, các công trình chủ yếu đã hoàn thành. Ngày 14/6/1848, vua Tự Đức thân hành lên Xương Lăng kiểm tra lần cuối. 10 ngày sau, thi hài vua Thiệu Trị được đưa vào an táng trong lăng sau 8 tháng quàn tại điện Long An ở cung Bảo Định.
Bài dụ của vua Tự Đức về ngày ninh lăng (an táng, chôn cất trong lăng) có đoạn: Ta kính vâng lời dạy bảo không dám sai trái. Kính bói ở núi Thuận Đạo được hợp tốt, xây dựng lăng tẩm, kính dâng tên lăng là Xương lăng. Lối đường đi ngầm đưa quan tài đến huyệt, tuân theo như quy chế của Hiếu lăng. Đến như điện thờ lâu đài, nhà bia, theo lễ cần tất phải có, nhưng phải bàn tính sửa làm, cho hợp lễ chế mà bớt sự phiền phí. Đó kính theo mệnh lệnh khi Người còn tỉnh, để cho thiên hạ muôn đời về sau đều biết tấm lòng chu chí của Tiên hoàng để tiêu dùng sẻn nhặt yêu thương nhân dân vậy.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 2, mặt khắc 32, 33, 34 ghi chép về quy mô và các hạng mục của Xương Lăng. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
Quá trình xây dựng lăng
Về quá trình xây lăng, sách Đại Nam thực lục chép: Mùa xuân, tháng giêng năm Mậu Thân, Tự Đức năm thứ nhất (1848), vào ngày Nhâm Tý (tức ngày 11 tháng 2 năm 1848), vua sai sửa làm tôn lăng ở núi Thuận Đạo. Sai Vũ Văn Giải sung chức Đổng lý, cứ 10 ngày một lần, chiếu xét công việc hiện làm đệ tâu lên. Đường đưa quan tài dưới đất đều y theo quy chế của Hiếu Lăng, các sở tẩm (tức đền thờ ở lăng) điện, đỉnh, viện đều y theo quy chế ở lăng Thiên Mụ mà tùy theo địa thế châm chước liệu làm. Đến tháng 2, Ngày Giáp Ngọ, xây huyệt ở tôn lăng núi Thuận Đạo.
Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 2, mặt khắc 32, 33, 34 ghi: Khi mới bắt đầu bàn, chuẩn cho xây dựng tôn lăng, trên xây bảo thành, dưới sửa đường hầm. Bảo thành cao 8 thước 1 tấc, chu vi 36 trượng, cửa bằng đá, cánh bằng đồng. Đằng trước là ao Ngưng Thúy, bắc 3 chiếc cầu đá, giữa là cầu Chính Trung, bên đông là cầu Động Hòa, bên tây là cầu Tây Định.
Ở hai đầu cầu Chính Trung, mỗi bên đều xây một cửa cổng, mỗi cổng đều 3 cửa, xây cột đồng trụ, biển chữ thếp vàng, đằng trước xây nền cao, bên trong bên ngoài đều làm 3 bậc. Ở giữa dựng lầu Đức Hinh 9 gian 2 tầng, hai bên tả, hữu dựng cột hoa biểu (tức cột xây); ở trước dựng 1 gian nhà bia “Thần công thánh đức”, làm mái chồng diêm, đằng trước đằng sau đều có bệ đá, trong có 1 tấm bia đá, thân cao 7 thước 3 tấc, ngang 3 thước 8 tấc, bệ bia dài 5 thước 4 tấc, cao 2 thước 3 tấc, bên tả bên hữu có hai con kỳ lân thếp vàng đứng chầu.
Ngoài là sân ngoài đứng chầu, 2 bên tả hữu có 4 hình tượng quan võ bằng đá, 6 hình tượng thị vệ bằng đá, 2 con ngựa đá, 2 con voi đá... Đằng trước làm cổng, có cái hoành biển bằng đồng chữ thếp vàng. Ngoài cửa xây cái bình phong, ngoài bình phong là hồ Nhuận Trạch. Bên tả lăng, dựng điện Biểu Đức, nóc nhà chính 5 gian, nóc nhà trước 7 gian, 2 lần rường nhà mái chồng diêm, sân lát gạch đường đi giữa sân bằng đá, 2 bên tả hữu có tường ngăn, mỗi bên có một cửa tò vò. Trong là viện phụ 2 bên tả hữu, ngoài làm điện đông tây phối, mỗi điện đều 3 gian, 4 mặt xây tường bao...

Bản đồ lăng vua Thiệu Trị của phòng Du lịch Tòa Đại biểu Chánh phủ tại Trung Việt ở Huế Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
Đến mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Tý (tức là ngày 19 tháng 11 năm 1848), vua Tự Đức cho dựng bia Thánh đức thần công (với bài bi ký dài hơn 2.500 chữ do chính ông viết ca ngợi công đức của vua cha) ở Xương lăng. Việc xây dựng Xương lăng mới hoàn thành. Như vậy, tính từ ngày bắt đầu xây dựng (11 tháng 2 năm 1848) đến ngày hoàn tất, lăng Thiệu Trị đã được thi công trong vòng chưa đầy 10 tháng.
Đến năm Mậu Ngọ, năm Tự Đức thứ 11 (1858), vua lại cho làm ở Hiếu lăng và Xương lăng mỗi nơi một cái nhà riêng ở ngoài giới hạn đất cấm. Phàm các phi tần, cho đến cung nga, thị nữ, hoặc người có con mà con chết trước, cùng là người không có con, nếu xin tình nguyện ở lại chầu trực điện thờ, mà sau chết đi, thì được thờ ở đấy, cấp cho đồ thờ, xuân thu tế hai lần, như lệ mọi đền thờ khác.
Trong hồ sơ 3515, tài liệu của Phòng Du lịch Tòa Đại biểu Chánh phủ tại Trung Việt ở Huế thuộc phông Tòa Đại biểu Chính phủ tại Trung nguyên Trung phần đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV cũng có một số ghi chép về lăng vua Thiệu Trị, kèm theo sơ đồ chỉ dẫn.
Tài liệu này còn cho biết: Ngó qua phía bên tả, có một tòa nhà để nghỉ ngơi tên là “Hiển quang các”, nằm trong một rừng thông trên gò đất cao, như là bao trùm cả đất Tôn Lăng. Nếu cứ theo đường quan lộ đi khỏi Tôn lăng, phỏng 200 thước trở qua phía hữu, thì đến lăng của bà Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu, vợ vua Thiệu Trị, gọi là “Xương Thọ Lăng”.
Nguồn Znews: https://znews.vn/lang-vua-thieu-tri-duoc-xay-cat-nhu-the-nao-post1618966.html











