Lấp khoảng trống pháp lý khi Nhà nước làm sai nhưng luật chưa quy định bồi thường

Cần bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên trái pháp luật.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước đề cao công lý và lẽ phải. Điều này đòi hỏi khi ban hành một quyết định hay thực hiện một hành vi trái pháp luật thì các chủ thể thực hiện vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý. Một trong những trách nhiệm được đề cập đến đó là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Có thể thấy, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 là công cụ pháp lý để người bị thiệt hại trong trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính), thi hành án (hình sự, dân sự) khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm.

Tuy nhiên, qua gần 8 năm triển khai thi hành, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 đã phát sinh nhiều hạn chế, bất cập và không phù hợp với những văn bản được ban hành sau ngày Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 có hiệu lực. Do đó, nhiều quyết định của nhà nước có khả năng xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác nhưng lại không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành không có quy định nhà nước bồi thường trong trường hợp áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên trái pháp luật. Trong ảnh: Phòng họp trực tuyến tại Cơ sở Xã hội Nhị Xuân. Ảnh: TAND Khu vực 3, TP.HCM

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành không có quy định nhà nước bồi thường trong trường hợp áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên trái pháp luật. Trong ảnh: Phòng họp trực tuyến tại Cơ sở Xã hội Nhị Xuân. Ảnh: TAND Khu vực 3, TP.HCM

Người chưa thành niên đi cai nghiện mà bị oan, ai bồi thường?

Theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, bắt đầu từ ngày 1-1-2022, các cơ quan nhà nước ở nước ta có thể áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Câu hỏi đặt ra là nếu quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi của Tòa án trái pháp luật thì người bị đề nghị áp dụng có được bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hay không?

Trong hoạt động quản lý hành chính, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 chỉ quy định về việc bồi thường trong trường hợp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trái pháp luật với người từ đủ 18 tuổi. Trong khi đó, xem xét các quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định từ Điều 17 đến Điều 21 Luật hiện hành thì không có quy định nhà nước bồi thường trong trường hợp áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi trái pháp luật. Bất cập này phát sinh là do Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 được ban hành trước Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

Xét về tính pháp quyền thì khi áp dụng trái pháp luật biện pháp cai nghiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, gây thiệt hại cho người chưa thành niên thì Nhà nước phải bồi thường. Tuy nhiên, do Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không quy định nên Nhà nước sẽ không bồi thường. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tác động bởi quyết định trái pháp luật. Do đó, Quốc hội cần nghiên cứu bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên trái pháp luật.

Bổ sung trên không chỉ góp phần bảo đảm quyền của người bị áp dụng mà còn là cơ sở quan trọng buộc các chủ thể có thẩm quyền phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định áp dụng biện pháp này. Chính sự thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng này sẽ là một chốt khóa an toàn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị do ban hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trái pháp luật, gây thiệt hại cho người chưa thành niên.

Cần bao quát hơn

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả trái pháp luật. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 chỉ gói gọn bồi thường trong việc áp dụng trái pháp luật một số biện pháp khắc phục hậu quả.

Cụ thể, khoản 3 Điều 17 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định: “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính sau đây trái pháp luật:. Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng”.

Như vậy, theo quy định này, nếu người có thẩm quyền áp dụng trái pháp luật biện pháp khắc phục hậu quả “buộc khôi phục tình trạng ban đầu”; “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp” hay “các biện pháp khắc phục hậu quả do Chính phủ quy định”, gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì không phải bồi thường.

Đối chiếu với Luật Xử lý vi phạm hành chính, có thể thấy, các biện pháp khắc phục hậu quả do Chính phủ quy định rất đa dạng. Trong khi đó, chính các biện pháp khắc phục hậu quả do Chính phủ quy định mới tác động đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức nhiều nhất. Khi bị áp dụng trái pháp luật các biện pháp khắc phục hậu quả do Chính phủ quy định thì cá nhân, tổ chức vẫn bị thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần.

Tranh chấp hành chính phát sinh và Nhà nước đã phải thừa nhận rằng việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả này là trái pháp luật. Tuy thừa nhận sai nhưng Nhà nước lại không tiến hành hoạt động bồi thường bởi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 không quy định những khiếm khuyết này nằm trong phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Trong trường hợp này, kết quả cuối cùng cũng không thực sự có nhiều ý nghĩa đối với người bị áp dụng trái pháp luật các biện pháp khắc phục hậu quả do Chính phủ quy định, cho dù bên này được giải quyết là bên giành phần thắng trong tranh chấp hành chính.

Nghiên cứu thấu đáo vấn đề này là thực sự cần thiết, vì trách nhiệm bồi thường chính là công cụ pháp lý quan trọng để ràng buộc và nâng cao tính cẩn trọng của các cơ quan chức năng khi ra quyết định.

Bổ sung trách nhiệm bồi thường khi người tố cáo bị từ chối bảo vệ

Việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cũng cần cụ thể hóa Quy định 231-QĐ/TW ngày 17-1-2025 về bảo vệ người tố giác trong chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đặc biệt là xác định trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong trường hợp không bảo vệ được các chủ thể liên quan.

 PGS.TS Cao Vũ Minh, Trưởng bộ môn Luật Hành chính - Nhà nước, Khoa Luật, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM

PGS.TS Cao Vũ Minh, Trưởng bộ môn Luật Hành chính - Nhà nước, Khoa Luật, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM

Theo Điều 4 Quy định 231, “Người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân được bảo vệ bí mật danh tính và các thông tin cá nhân khác; tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, vị trí công tác, việc làm; quyền và lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Các biện pháp bảo vệ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn bảo vệ thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành”.

Hiện nay, Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “khi có căn cứ về việc vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo đang bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại ngay tức khắc hay bị trù dập, phân biệt đối xử do việc tố cáo, người giải quyết tố cáo có văn bản đề nghị người giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ”. Điều 7 Nghị định 31/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Tố cáo giải thích theo hướng: “khi nhận được văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ của người tố cáo thì người giải quyết tố cáo có trách nhiệm xem xét, đánh giá căn cứ, tính xác thực của đề nghị bảo vệ và quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ theo thẩm quyền”.

Như vậy, việc đánh giá “có căn cứ” để từ đó áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết cũng thuộc về thẩm quyền của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Trường hợp người tố cáo cho rằng có căn cứ” và có văn bản đề nghị người giải quyết tố cáo áp dụng biện pháp bảo vệ nhưng người có thẩm quyền giải quyết tố cáo trên cơ sở đánh giá căn cứ, tính xác thực lại thấy “không cần thiết” thì giải quyết như thế nào?

Trong trường hợp này, việc áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết sẽ không được thực hiện bởi khoản 3 Điều 51 Luật Tố cáo năm 2018 quy định: “Trường hợp đề nghị của người tố cáo không có căn cứ hoặc xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ, cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người tố cáo hoặc gửi thông báo cho người giải quyết tố cáo để giải thích rõ lý do cho người tố cáo”. Thiếu cơ chế bảo vệ cần thiết sẽ đặt người tố cáo vào tình thế rủi ro cao về an toàn thân thể và tính mạng trước các hành vi trả thù, trù dập có thể phát sinh bất cứ lúc nào trong thực tế.

Do đó, sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 cần hướng đến việc sẽ bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (hoặc người thân của họ) bị thiệt hại do không được áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời các biện pháp bảo vệ.

PGS-TS CAO VŨ MINH, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐHQG TP.HCM

Nguồn PLO: https://plo.vn/video/lap-khoang-trong-phap-ly-khi-nha-nuoc-lam-sai-nhung-luat-chua-quy-dinh-boi-thuong-post911350.html