Lấp khoảng trống sức khỏe học đường, cần một hành lang pháp lý đủ mạnh

Từ thực tiễn triển khai tại các địa phương, các chuyên gia cho rằng cần một hành lang pháp lý đủ mạnh, tiến tới nghiên cứu luật hóa dinh dưỡng và bữa ăn học đường, để chính sách không dừng ở các chương trình, mô hình thí điểm mà trở thành trách nhiệm thường xuyên, bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của mọi học sinh.

Nhận diện những khoảng trống trong công tác sức khỏe học đường

Ngày 11/8, tại Bộ Giáo dục và Đào tạo đã diễn ra Tọa đàm "Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động" hướng tới làm rõ những thách thức đang đặt ra trong chăm sóc sức khỏe học sinh, đồng thời tìm kiếm giải pháp để các chủ trương, chính sách quốc gia được triển khai hiệu quả, đồng bộ tại nhà trường.

Với sự tham gia của đại diện Sở GD&ĐT Thanh Hóa, Tổ chức UNICEF tại Việt Nam, chuyên gia dinh dưỡng và doanh nghiệp, tọa đàm tập trung  nhận diện những khoảng trống trong công tác sức khỏe học đường, từ dinh dưỡng, an toàn thực phẩm đến nhân lực, kinh phí và sự phối hợp giữa ngành giáo dục, y tế, gia đình và xã hội. Những kinh nghiệm từ các chương trình như Sữa học đường, Mô hình điểm Bữa ăn học đường cũng được nhìn nhận để xác định những giá trị cần kế thừa và hạn chế cần khắc phục.

Tọa đàm "Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động".

Tọa đàm "Truyền thông sức khỏe học đường và huy động nguồn lực xã hội: Từ nhận thức đến hành động".

Một nội dung quan trọng là chuyển chính sách thành hành động cụ thể tại địa phương. Quyết định số 973/QĐ-TTg và Kế hoạch của Bộ GD&ĐT ban hành theo Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp, chuẩn hóa mục tiêu, tiêu chuẩn chuyên môn, dữ liệu và chế độ báo cáo. 

Bà Nguyễn Quỳnh Vân, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng TH chia sẻ, trong quá trình triển khai mô hình bữa ăn học đường tại một số địa phương, nhóm nghiên cứu  từng ghi nhận trường hợp học sinh chưa từng uống sữa tươi. Trong khi đó, trẻ em ở đô thị có rất nhiều lựa chọn. Sự khác biệt tưởng như rất nhỏ lại phản ánh một khoảng cách lớn trong tiếp cận dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe học sinh.

Bà Nguyễn Quỳnh Vân, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng TH chia sẻ tại tọa đàm.

Bà Nguyễn Quỳnh Vân, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng TH chia sẻ tại tọa đàm.

Mô hình điểm "Bữa ăn học đường đảm bảo dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh Việt Nam" (từ đây gọi tắt là Mô hình điểm) là một trong những mô hình tiêu biểu. Mô hình này do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế (Viện Dinh dưỡng) cùng các chuyên gia đầu ngành trong nước và quốc tế triển khai, với sự khởi xướng và đồng hành của Tập đoàn TH – doanh nghiệp thực phẩm có nhiều hoạt động nhằm hiện thực hóa khát vọng nâng cao tầm vóc thế hệ trẻ Việt Nam. Chương trình từng được thực hiện thí điểm trong năm học 2020-2021 tại cấp mầm non và tiểu học ở 10 tỉnh, thành phố đại diện cho 5 vùng sinh thái lớn trên cả nước.

Từ thực tế triển khai các chương trình dinh dưỡng học đường, PGS.TS Bùi Thị Nhung, Phó Chủ tịch Hội Tiết chế Dinh dưỡng, nguyên Chủ nhiệm Khoa Dinh dưỡng học đường và Ngành nghề, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cho rằng khoảng trống hiện nay không chỉ nằm ở thực phẩm.

Đó còn là khoảng trống về cơ sở vật chất, nhân lực, kiến thức dinh dưỡng, mức chi cho bữa ăn, cơ chế giám sát và đặc biệt là chính sách đủ mạnh để các mô hình không dừng lại sau giai đoạn thí điểm.

Theo PGS.TS. Bùi Thị Nhung, kinh nghiệm từ nhiều năm tham gia các chương trình sữa học đường và mô hình bữa ăn học đường cho thấy yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm tính bền vững chính là cơ chế, chính sách.

Khi triển khai mô hình điểm, các trường có thể được hỗ trợ khá đầy đủ về cơ sở vật chất, nhân lực, kiến thức chuyên môn, xây dựng thực đơn, truyền thông cho phụ huynh và giáo dục dinh dưỡng. Khi những điều kiện cần thiết được bảo đảm, nhà trường hoàn toàn có thể tổ chức bữa ăn học đường theo hướng cân bằng dinh dưỡng. Nhưng khi mô hình kết thúc, nếu không có cơ chế duy trì, kết quả rất dễ bị gián đoạn.

Bà Nhung cho rằng Việt Nam có một nền tảng thuận lợi từ bậc mầm non. Từ nhiều năm nay, chương trình giáo dục mầm non đã gắn nhiệm vụ nuôi dưỡng với chăm sóc, giáo dục trẻ. Việc tính toán thực đơn cũng đã trở thành yêu cầu trong tổ chức bữa ăn.

Trong khi đó, ở bậc tiểu học và các cấp học lớn hơn, việc tổ chức bữa ăn còn gặp nhiều khó khăn. Giáo viên và nhà trường không phải lúc nào cũng được trang bị đầy đủ kiến thức dinh dưỡng. Việc xây dựng thực đơn, tính khẩu phần và tổ chức chế biến đòi hỏi nhân lực có chuyên môn. Theo bà, cần tiến tới những quy định có tính bắt buộc về cơ sở vật chất, nhân lực, chuyên môn, mức chi và tiêu chuẩn bữa ăn.

"Khoảng trống" dinh dưỡng học đường vì thế không chỉ là việc một học sinh thiếu một hộp sữa hay một bữa ăn đủ chất. Đó là khoảng trống trong cả hệ thống tổ chức và bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng của trẻ.

Bà Nguyễn Quỳnh Vân cho biết qua quá trình triển khai các chương trình tại nhiều địa phương, bà nhận thấy điều kiện thực tế không đồng đều. Có nơi một suất ăn 35.000-40.000 đồng được xem là bình thường. Nhưng tại địa phương khác, để có một suất ăn khoảng 15.000 đồng đã là sự cố gắng rất lớn của gia đình và nhà trường.

PGS.TS. Bùi Thị Nhung cũng dẫn lại kinh nghiệm từ các mô hình điểm. Có trường chỉ có mức chi khoảng 12.000-15.000 đồng cho một bữa ăn. Việc tăng thêm vài nghìn đồng có thể trở thành gánh nặng với phụ huynh.

Ở những nơi khó khăn, vấn đề không chỉ là thực đơn có đủ nhóm chất hay không. Trường còn phải giải quyết bài toán bếp ăn, dụng cụ, nhân viên chế biến và kinh phí vận hành. Có trường chỉ có một, hai nhân viên bếp. Nhân viên thường làm việc theo hợp đồng ngắn hạn, thu nhập thấp nên khó thu hút người có chuyên môn.

"Các thầy cô, hiệu trưởng nhiều khi phải vào bếp cùng thực hành", bà Nhung chia sẻ.

Từ thực tế đó, chuyên gia cho rằng nếu muốn bữa ăn học đường trở thành hoạt động thường xuyên, cần có đội ngũ nhân lực được đào tạo, tập huấn và có cơ chế làm việc ổn định.

Bài học từ Thanh Hóa, không thể áp dụng một cách làm cho mọi địa bàn

Từ góc nhìn địa phương, ông Nguyễn Văn Dĩnh, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, cho rằng sự khác biệt về điều kiện giữa các vùng là một trong những thách thức lớn nhất khi triển khai chương trình sức khỏe học đường.

Ông Nguyễn Văn Dĩnh, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa.

Ông Nguyễn Văn Dĩnh, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa.

Thanh Hóa hiện có gần 2.000 cơ sở giáo dục từ mầm non đến phổ thông, với khoảng 1 triệu học sinh. Địa bàn rộng, điều kiện kinh tế - xã hội đa dạng. Tỉnh có khu vực đô thị, nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới. Vì vậy, nhu cầu chăm sóc sức khỏe học sinh giữa các địa bàn cũng khác nhau.

Theo ông Dĩnh, vấn đề đầu tiên là nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân viên y tế trường học. Vấn đề thứ hai là cơ sở vật chất. Các trường cần có phòng y tế, thuốc và thiết bị y tế cần thiết để có thể thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe học sinh. Đây là những điều kiện tưởng như cơ bản nhưng không phải trường nào cũng có thể đáp ứng đồng đều.

Thanh Hóa đặt mục tiêu trong năm học 2026-2027 có 100% học sinh được khám, sàng lọc theo yêu cầu của chương trình. Tuy nhiên, với những địa bàn đặc thù, việc đưa chính sách từ cấp quốc gia xuống từng trường vẫn là bài toán không đơn giản.

Ông Dĩnh cho biết Thanh Hóa có 16 xã biên giới đất liền. Ở khu vực này, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Khả năng đóng góp của gia đình cũng hạn chế. Đối với học sinh vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng.

Tuy nhiên, theo ông Dĩnh, để nâng cao chất lượng bữa ăn và chăm sóc sức khỏe học sinh, rất cần sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng.

Từ thực tế Thanh Hóa, có thể thấy chính sách quốc gia cần được cụ thể hóa theo điều kiện từng địa phương. Một mô hình phù hợp với trường học ở đô thị chưa chắc phù hợp với một điểm trường vùng biên giới.

Cần nghiên cứu xây dựng luật về bữa ăn, dinh dưỡng học đường

Theo bà Lê Anh Lan, chuyên gia giáo dục của Tổ chức Unicef tại Việt Nam, sức khỏe học đường cần được tiếp cận toàn diện và lấy trẻ em làm trung tâm. Bốn nguyên tắc về quyền trẻ em cần được bảo đảm gồm không phân biệt đối xử; mọi hoạt động phải vì lợi ích tốt nhất của trẻ; bảo đảm quyền sống còn và phát triển; tôn trọng quyền được lắng nghe và tham gia của trẻ.

Điều này có nghĩa sức khỏe học đường không thể chỉ là khám, chữa bệnh. Đó còn là dinh dưỡng, nước sạch, vệ sinh, sức khỏe tâm thần, môi trường học tập an toàn và khả năng tiếp cận các dịch vụ phù hợp. Đặc biệt, trẻ em cần được tham gia vào quá trình xây dựng và đánh giá những chương trình dành cho chính mình.

Các chuyên gia cùng có chung nhận định rằng Việt Nam đã có những chương trình và chính sách quan trọng về sức khỏe học đường. Điểm nghẽn hiện nay không nằm ở chủ trương. Đó là khả năng chuyển hóa chính sách thành hoạt động thường xuyên, có chất lượng tại từng địa phương và từng nhà trường.

Các chuyên gia cho rằng cần nghiên cứu xây dựng luật về bữa ăn, dinh dưỡng học đường.

Các chuyên gia cho rằng cần nghiên cứu xây dựng luật về bữa ăn, dinh dưỡng học đường.

Theo bà Nguyễn Quỳnh Vân, ba vấn đề lớn là nguồn lực, năng lực tổ chức và thực hành, cùng tính liên tục và sự phối hợp giữa các bên. Doanh nghiệp, theo bà Vân, không nên chỉ tham gia bằng tiền hoặc sản phẩm.

"Doanh nghiệp có thể tham gia ngay từ giai đoạn khảo sát nhu cầu, cùng địa phương tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội, thói quen ăn uống của học sinh, sau đó đưa chuyên gia tới tập huấn cho nhà trường, nhân viên bếp, giáo viên và phụ huynh. Doanh nghiệp cũng có thể đóng góp công nghệ, mô hình, giải pháp và hỗ trợ đánh giá. Tuy nhiên, sự tham gia của doanh nghiệp cần nằm trong một khuôn khổ minh bạch, bảo đảm không làm thay đổi mục tiêu chính sách hoặc các yêu cầu chuyên môn", bà Nguyễn Quỳnh Vân chia sẻ.

Từ những câu chuyện được chia sẻ tại tọa đàm, các chuyên gia cho rằng một trong những hướng đi quan trọng là hoàn thiện thể chế. PGS.TS. Bùi Thị Nhung cho rằng Việt Nam có thể nghiên cứu xây dựng luật về bữa ăn, dinh dưỡng học đường. Trong đó, cần quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, nhà trường, gia đình và các bên liên quan; tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, nhân lực, bữa ăn; cơ chế giám sát và nguồn lực thực hiện.

Theo bà, việc luật hóa sẽ giúp những yêu cầu về dinh dưỡng học đường không còn phụ thuộc vào từng chương trình hay từng giai đoạn. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế giám sát các mô hình cung cấp suất ăn cho trường học. Hiện nay, có trường tự tổ chức chế biến, nhưng cũng có trường sử dụng suất ăn do doanh nghiệp cung cấp. Dù theo mô hình nào, yêu cầu cuối cùng vẫn là an toàn thực phẩm và cân bằng dinh dưỡng.

Điều quan trọng là mọi trẻ em, dù ở đô thị, nông thôn hay vùng biên giới, đều được bảo đảm những tiêu chuẩn tối thiểu về dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần; được bảo vệ, được lắng nghe và được tham gia vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến mình.

Muốn làm được điều đó, chính sách phải đi cùng nguồn lực, dữ liệu, cơ chế phối hợp và trách nhiệm giải trình. Xa hơn, cần một hành lang pháp lý đủ mạnh để dinh dưỡng học đường và sức khỏe học đường trở thành nhiệm vụ thường xuyên, thay vì chỉ phụ thuộc vào từng chương trình hay mô hình thí điểm.

Sức khỏe học đường không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục hay y tế, mà cần trở thành trách nhiệm chung của Nhà nước, nhà trường, gia đình, doanh nghiệp và toàn xã hội, hướng tới một môi trường học tập an toàn, lành mạnh và lấy trẻ em làm trung tâm.

Tô Hội

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/lap-khoang-trong-suc-khoe-hoc-duong-can-mot-hanh-lang-phap-ly-du-manh-1692608111057112.htm