Lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực cho mô hình phát triển mới

Chiều 9/4, thảo luận tại tổ 7 (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An, Lâm Đồng) về các nội dung kinh tế - xã hội, tài chính, đầu tư công và ngân sách, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú (Nghệ An) cơ bản thống nhất với các báo cáo của Chính phủ; đồng thời đề nghị có các giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, chuyển đổi mô hình phát triển, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực cho mô hình phát triển mới.

Nội lực còn yếu, chất lượng tăng trưởng chưa cao

Theo ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú, giai đoạn 2021 - 2025, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,2%/năm; quy mô GDP đứng thứ 32 trên thế giới; GDP bình quân đầu người bước vào nhóm các nước có thu nhập cao. Trình độ phát triển con người (HDI) đạt mức cao 0,766 năm 2025. Trình độ tiến bộ xã hội (SPI) liên tục được cải thiện, hiện đạt mức khá 70,76 điểm, xếp thứ 63/171 quốc gia.

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú phát biểu. Ảnh: Khánh Duy

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú phát biểu. Ảnh: Khánh Duy

Tuy nhiên, mô hình phát triển đất nước vẫn bộc lộ những hạn chế. Mô hình tăng trưởng chưa thực sự dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tái cơ cấu kinh tế còn chậm, thiếu đột phá; nội lực nền kinh tế còn yếu; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp.

Đại biểu dẫn một số chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng của Việt Nam. Cụ thể, tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt 5,9%/năm; giai đoạn 2016 - 2020 đạt 6,0%; giai đoạn 2021 - 2025 đạt 6,3%; mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 là từ 10,0% trở lên. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng lần lượt là 33,5%; 45,7%; khoảng 47,0%; mục tiêu giai đoạn tới là trên 55,0%. Tăng năng suất lao động bình quân lần lượt là 4,3%; 5,9%; khoảng 4,8%; mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030 là khoảng 8,5%. GDP bình quân đầu người năm cuối các giai đoạn lần lượt là 2.596 USD; 3.552 USD; 5.026 USD; mục tiêu giai đoạn tới là khoảng 8.500 USD.

Phân tích nguyên nhân và thách thức, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng, mặc dù TFP tăng dần, nhưng so với các quốc gia đi trước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc trong giai đoạn tăng trưởng cao tương ứng, đóng góp TFP của Việt Nam vẫn thấp hơn đáng kể. Kết quả tăng trưởng TFP cơ bản đến từ đột phá thể chế và hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp, còn tính kinh tế theo quy mô và tiến bộ công nghệ chưa đóng góp nhiều cho tăng trưởng TFP.

Toàn cảnh phiên thảo luận tổ chiều 9/4. Ảnh: Khánh Duy

Toàn cảnh phiên thảo luận tổ chiều 9/4. Ảnh: Khánh Duy

Bên cạnh đó, chi tiêu cho R&D còn khiêm tốn. Chi tiêu cho khoa học - công nghệ mới khoảng 0,53% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các quốc gia có thu nhập trung bình cao, trên 1,5%. Mặc dù tỷ trọng doanh nghiệp trong tổng chi R&D đã vượt 60%, khoảng cách về năng lực đổi mới sáng tạo so với các nước phát triển vẫn rất lớn.

Đại biểu cũng nhấn mạnh năng lực nội sinh còn hạn chế, xuất khẩu chủ yếu dựa vào FDI, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa thấp so với các quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế vẫn tiếp tục vận hành theo mô hình tăng trưởng dẫn dắt bởi xuất khẩu. Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2025 ước đạt 930 tỷ USD, trong đó khu vực FDI đóng góp 73% tổng kim ngạch xuất khẩu và 69% tổng kim ngạch nhập khẩu.

Theo đại biểu, điều này cho thấy những thách thức đối với sự phát triển của doanh nghiệp trong nước trên quan điểm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Đột phá thể chế, phát triển kinh tế số và chuyển đổi xanh

Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cho biết, Nghị quyết Đại hội XIV đã xác lập mô hình phát triển mới, trong đó vai trò của khu vực tư nhân đã thay đổi; vai trò của Nhà nước chuyển từ kiến tạo sang dẫn dắt; chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng có chất lượng, với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Trọng tâm của mô hình mới là tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trong đó kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn được xác định là các trụ cột chiến lược.

Toàn cảnh phiên thảo luận tổ. Ảnh: Khánh Duy

Toàn cảnh phiên thảo luận tổ. Ảnh: Khánh Duy

Từ đó, đại biểu đề nghị Báo cáo và Nghị quyết cần nghiên cứu bổ sung một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.

Về cải cách thể chế, cần chú trọng xây dựng thể chế theo hướng trao quyền gắn với chịu trách nhiệm; phát triển các thị trường nguồn lực; xây dựng các thể chế của nền kinh tế hiện đại và mô hình kinh tế mới.

Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực, phát triển các khu vực doanh nghiệp và mô hình kinh tế mới, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Đối với chuyển đổi số, đây phải là trọng tâm, với mục tiêu kinh tế số đạt 30% GDP vào năm 2030, tăng hơn gấp đôi so với mức 14% hiện tại của năm 2025, trong đó kinh tế số lõi chiếm 8,42% và số hóa các ngành chiếm 5,6%. Theo đại biểu, trong báo cáo cần có kịch bản tăng trưởng kinh tế số để có cơ sở tập trung nguồn lực, giải pháp cho phát triển kinh tế số lõi và số hóa các ngành, từ đó nâng cao hiệu quả và tạo giá trị mới. Đại biểu dẫn ví dụ, Bắc Ninh hiện có tỷ trọng kinh tế số hơn 46%, Thái Nguyên hơn 29%.

Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú đề nghị phát triển hạ tầng số quốc gia, hệ thống dữ liệu số; thúc đẩy chuyển đổi số trong cả khu vực công và doanh nghiệp; phủ sóng 5G toàn quốc; làm chủ các công nghệ chiến lược như AI, IoT, blockchain; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và tự động hóa trong sản xuất - kinh doanh; phát triển các ngành công nghiệp số như công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, dịch vụ số.

Các ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận tổ. Ảnh: Khánh Duy

Các ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận tổ. Ảnh: Khánh Duy

Đối với chuyển đổi xanh, đại biểu đề nghị phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng sạch; đưa kinh tế tuần hoàn trở thành trụ cột chiến lược; vận hành thị trường carbon, tín chỉ carbon theo cam kết COP26 và mục tiêu Net Zero 2050.

Về cơ cấu ngành nông nghiệp, đại biểu đề nghị phát triển nông nghiệp đa giá trị. Đối với vùng miền núi, cần nghiên cứu, tổ chức phát triển kinh tế dưới tán rừng, phát huy đa dụng giá trị hệ sinh thái rừng, khai thác giá trị dược liệu dưới tán rừng.

Đối với khu vực kinh tế tư nhân, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng: cần cụ thể hóa bằng các chính sách hỗ trợ thiết thực cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ và thị trường; phát triển lực lượng doanh nghiệp nội địa lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh và đổi mới; có chính sách đủ mạnh để hình thành doanh nghiệp công nghệ lớn của Việt Nam. Đồng thời, cần thúc đẩy liên kết cụm ngành và liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, lan tỏa công nghệ và hình thành chuỗi giá trị nội địa vững chắc.

Về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú nhấn mạnh mục tiêu nâng tỷ lệ đóng góp của TFP vào tăng trưởng lên 55% là điều kiện tiên quyết để đạt tăng trưởng hai con số. Theo đó, Nghị quyết cần cụ thể hóa một số nhiệm vụ, giải pháp: tăng mạnh chi tiêu đầu tư cho R&D, phấn đấu đạt 1,5 - 2% GDP vào năm 2030, trong đó khu vực tư nhân đóng vai trò chủ đạo; chuyển nhiệm vụ khoa học, công nghệ sang cơ chế đặt hàng theo kết quả đầu ra; áp dụng cơ chế đồng tài trợ công - tư cho R&D, cho phép quỹ đầu tư mạo hiểm tham gia sâu vào hệ sinh thái đổi mới; phát triển lực lượng sản xuất mới như AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ xanh; xây dựng mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo và phòng thí nghiệm trọng điểm hỗ trợ nghiên cứu trong các lĩnh vực ưu tiên như AI, sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch.

Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu đề nghị khai thác các giá trị tri thức bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số để phát triển sinh kế bền vững.

Các ĐBQH tỉnh Lâm Đồng dự thảo luận Tổ. Ảnh: Khánh Duy

Các ĐBQH tỉnh Lâm Đồng dự thảo luận Tổ. Ảnh: Khánh Duy

Ngoài ra, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú cũng đề nghị nghiên cứu bổ sung bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể hóa trong phụ lục. Bộ tiêu chí này gồm các nhóm tiêu chí đầu vào như nhân lực, đầu tư cho khoa học - công nghệ; tiêu chí kết quả như nghiên cứu khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kết quả chuyển giao và ứng dụng; tiêu chí hiệu quả như hiệu quả kinh tế, hiệu quả đối với doanh nghiệp; và tiêu chí tác động như tác động kinh tế, tỷ trọng kinh tế số, tác động xã hội, môi trường, tác động đối với quản trị và dịch vụ công, cũng như các tác động tổng hợp thể hiện qua chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, chỉ số phát triển con người, Chính phủ điện tử.

Diệp Anh

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/lay-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-lam-dong-luc-cho-mo-hinh-phat-trien-moi-10412944.html