Lê Quý Đôn - Nhà văn hóa lớn, người gìn giữ và phát huy nền văn hiến dân tộc
Lê Quý Đôn (1726 - 1784) là một trong những danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, nhà bác học lớn của thế kỷ XVIII. Với trí tuệ uyên thâm, tinh thần ham học hỏi và khối lượng trước tác đồ sộ, ông đã có những đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, triết học, giáo dục, văn học và khoa học. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là biểu tượng của lòng yêu nước, khát vọng cống hiến, tinh thần thực học và ý chí không ngừng tìm tòi, sáng tạo, để lại di sản quý báu cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Lê Quý Đôn, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Đường, tên lúc nhỏ là Lê Danh Phương, sinh ra trong gia đình khoa bảng tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay là xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên). Cha ông và cha vợ đều là Tiến sĩ, làm quan trong triều. Từ nhỏ, Lê Quý Đôn được gọi là “thần đồng”, nổi tiếng thông minh, có trí nhớ tuyệt vời lại ham học hỏi; năm 5 tuổi có thể đọc nhiều bài thơ trong Kinh Thi. Năm 12 tuổi, Lê Quý Đôn thông thạo kinh điển Nho học; năm 17 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hương; năm 24 tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hội; năm 26 tuổi, đỗ đầu thi Đình. Sau khi đỗ Bảng nhãn, từ năm 1752, Lê Quý Đôn bắt đầu bước vào sự nghiệp quan trường và giữ nhiều chức vụ quan trọng của Triều Lê - Trịnh.

Khu lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn. Ảnh: Báo Hưng Yên
Cả cuộc đời học hành và làm quan, Lê Quý Đôn luôn thể hiện sâu sắc lòng yêu nước, thương dân và ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh quốc gia, dân tộc. Với ông, việc học tập, nghiên cứu, làm quan hay các trước tác đều không nhằm mưu cầu danh lợi cá nhân mà trước hết để góp phần xây dựng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân và vì sự hưng thịnh lâu dài của quốc gia.
Đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau trong triều đình, đi công cán ở nhiều nơi, ông luôn quan tâm đến các vấn đề dân sinh, kinh tế, giáo dục, quản lý xã hội và bảo vệ chủ quyền đất nước bởi ông luôn quan niệm, sự thịnh suy của đất nước gắn liền với đời sống nhân dân. Những khảo cứu, kiến nghị và đề xuất của ông đều hướng tới mục tiêu phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, khai thác hiệu quả tiềm năng của đất nước và tăng cường sức mạnh quốc gia. Ông luôn đề cao trách nhiệm của người làm quan, cho rằng người làm quan không chỉ bàn việc triều chính mà phải trực tiếp chăm lo đời sống của nhân dân, đem hết tâm lực thực hiện chức trách được giao. Tinh thần “dĩ công vi thượng”, lấy lợi ích của quốc gia và nhân dân làm mục tiêu phụng sự đã trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Đóng góp nổi bật của Lê Quý Đôn là khả năng hệ thống hóa, tổng kết và phát triển tri thức của thời đại. Các công trình như: Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Quần thư khảo biện, Phủ biên tạp lục không chỉ phản ánh vốn hiểu biết uyên thâm mà còn thể hiện năng lực tư duy tổng hợp, phân tích và khái quát khoa học xuất sắc. Đặc biệt, Vân đài loại ngữ được đánh giá là bộ bách khoa thư tiêu biểu của Việt Nam thời phong kiến.
Một giá trị nổi bật khác là phương pháp nghiên cứu khoa học nghiêm cẩn. Lê Quý Đôn luôn kết hợp giữa khảo sát thực tiễn, thu thập tư liệu, đối chiếu nguồn sử liệu và kiểm chứng thông tin trước khi đưa ra nhận định. Tư duy thực chứng ấy đã góp phần nâng cao chất lượng học thuật trong các công trình nghiên cứu của ông.
Không dừng lại ở việc kế thừa tri thức truyền thống, ông còn thể hiện tinh thần học thuật cởi mở khi tiếp thu có chọn lọc những thành tựu tri thức của thời đại, đặc biệt trong các lĩnh vực thiên văn, địa lý, lịch pháp. Việc tiếp thu, giới thiệu những tri thức mới về thế giới tự nhiên cho thấy tầm nhìn rộng mở và khả năng tiếp biến sáng tạo của ông. Bằng tri thức bách khoa, phương pháp nghiên cứu khoa học và tinh thần học hỏi không ngừng, Lê Quý Đôn đã trở thành một đỉnh cao của nền học thuật Việt Nam, có ảnh hưởng sâu rộng đối với nhiều lĩnh vực khoa học và giáo dục nước nhà.
Một trong những cống hiến nổi bật của Lê Quý Đôn là sưu tầm, khảo cứu, hệ thống hóa và lưu truyền kho tàng tri thức, văn hóa của dân tộc. Ông đã dành nhiều tâm huyết ghi chép, đối chiếu và tổng kết các nguồn tư liệu, qua đó lưu giữ nhiều di sản quý báu của đất nước. Thông qua các công trình như: Toàn Việt thi lục, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã để lại một khối lượng lớn tư liệu về lịch sử, địa lý, văn học, phong tục, tập quán, sản vật, đời sống xã hội Việt Nam... Nhiều tư liệu có giá trị về lịch sử và văn hóa dân tộc được bảo tồn và truyền lại cho hậu thế thông qua các công trình khảo cứu của ông.
Qua các trước tác của mình, ông luôn đề cao truyền thống lịch sử lâu đời, bản lĩnh tự chủ và những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Di sản học thuật của ông góp phần làm sâu sắc nhận thức về nền văn hiến Đại Việt, bồi đắp ý thức trân trọng, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc qua nhiều thế hệ.
Ghi nhận, tôn vinh những công lao, đóng góp, cống hiến của Lê Quý Đôn cho nền văn hóa Việt Nam và thế giới, tại phiên họp Đại Hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) lần thứ 43 diễn ra vào ngày 31/10/2025 tại Samarkand, Cộng hòa Uzbekistan đã thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 - 2026). Việc UNESCO thông qua Nghị quyết vinh danh và cùng tham gia kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cộng đồng học thuật quốc tế, khi lần đầu tiên một học giả thời phong kiến Việt Nam được ghi nhận ở tầm vóc danh nhân văn hóa toàn cầu.
Lê Quý Đôn là biểu tượng của trí tuệ, tinh thần hiếu học và trách nhiệm đối với đất nước. Cuộc đời và sự nghiệp của ông để lại di sản học thuật đồ sộ, góp phần làm rạng danh truyền thống văn hiến Việt Nam và tiếp tục truyền cảm hứng cho các thế hệ hôm nay. Khu lưu niệm nhà bác học Lê Quý Đôn tại thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên là nơi lưu giữ, bảo tồn những hiện vật, dấu tích từng gắn bó với nhà bác học danh tiếng trong lịch sử. Những năm qua, công tích và sự nghiệp khoa học của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn đã và đang được suy tôn qua nhiều hình thức. Hiện nay, trên cả nước có khoảng 40 ngôi trường mang tên Lê Quý Đôn. Tên tuổi của ông còn được đặt cho nhiều tuyến đường, giải thưởng khoa học, hội thảo và chương trình học, minh chứng cho sức lan tỏa bền bỉ của một danh nhân văn hóa với giá trị tri thức trường tồn.
Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ là dịp tôn vinh và tri ân những cống hiến to lớn của ông đối với lịch sử dân tộc mà còn là dịp để nhìn nhận sâu sắc hơn những giá trị đã góp phần làm nên bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Việc tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị đó không chỉ góp phần làm giàu thêm nền tảng văn hóa, tri thức và sức mạnh con người Việt Nam mà còn khơi dậy động lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.











